LỘ TR̀NH TRÍ
THỨC VIỆT
NGUYỄN VĂN
ĐẬU
Đi vào thế kỷ XX, người dân Việt
đặt những bước đi vừa nặng
trĩu khổ đau, vừa bổng bay phẫn uất,
vừa khát khao dơi mắt kiếm t́m. Quá khứ, hiện
tại với tương lai đều tụ lại trong
những bước đi ấy. Đi vào thế kỷ XX
là đi vào hai năm sau cùng của tṛn một trăm
năm trị v́ của triều Nguyễn, là đi vào
những cuộc vận động cách mạng giải
phóng dân tộc, là đi vào bườc củng cố
vững chăi của thứ chữ quốc ngữ hôm nay ta
đang dùng như một thứ công cụ ư nghĩa nhất
cho con đường tồn tại và phát triển của
nhân dân ta...
Thế kỷ XX bắt đầu với một
sự gặp gỡ lớn của ngót hai mươi
triệu con dân tuy phận là nô lệ nhưng luôn luôn
bừng bừng khí thế. Nhật thắng Nga năm 1905
đă làm bùng lên ở ta khí thế Đông Du. Duy Tân 1916,
Lương Ngọc Quyến 1917, mạnh cất lên
tiếng thương ṇi mà không hề tị hiềm giai
cấp. Nguyễn Thái Học bước lên máy chém một
cách hiên ngang để “thành nhân” mà cũng nhắc nhở
được người người rằng bên
cạnh đó c̣n cần đến cả “thành công”
nữa... Nghĩa là, dù trong hành động hay tư
tưởng chưa hề có một khoảng cách nào
xuất hiện giữa các tầng lớp nhân dân, kể
cả khi xuất hiện một sắc thái tư
tưởng chưa hề có ở ta trước đó:
tư tưởng Mác-xít.
Thông qua hoạt động văn học nghệ
thuật, ta có thể dễ nhận ra hơn bước
diễn biến trí thức cho đến những năm
đầu của thập niên 1940. Sự ra đời
của hai tờ tạp chí Đông Dương (1913) và Nam
Phong (1917) đă góp phần làm tích lũy vốn ngôn ngữ
và tư tưởng khả dĩ làm nền tác động
cho một trào lưu văn học với cả mặt
khảo cứu chặt chịa, cả mặt sáng tác lăng
mạn sau đó. Chúng ta phải thừa nhận những
công tŕnh nghiên cứu có giá trị lớn về nhiều
mặt của các vị như Phan Kế Bính, Dương
Quảng Hàm, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh v.v... Chúng ta
cũng cần nâng niu những vần thơ hay của
mấy nhà thơ tiền phong như Tương Phố,
Đông Hồ v.v... Sự xuất hiện của nhóm
Tự Lực văn đoàn (1933) có thể là đă mở
màn cho một t́nh h́nh mới: một mặt tất cả
những cái cũ đều bị tấn công, một
mặt mọi thói độc đoán bị phản
ứng, một mặt nhiều lề thói mới Âu Tây
được phổ biến và hấp dẫn
được nhiều người. Từ đó là
nhiều hướng đi khác nhau đă hé mở cho
giới trí thức, cũng có nghĩa là cho tất cả
mọi người.
Sự khác nhau trong nhận thức hay trong hành
động thường mang ư nghĩa tương tác tích
cực để sự phong phú và sự cởi mở
được đẩy đi xa thêm. Chỉ khi ở
đó nảy sinh tính đối kháng giữa các sự khác
biệt th́ vấn đề mới trở nên bi kịch.
Năm 1945, cách mạng Tháng tám bùng nổ đă
đưa đến t́nh trạng đối kháng ấy.
Mặt trận chính trị của tất cả những
người Việt yêu nước cho đến lúc này, tuy
tính thống nhất không cao nhưng tính chia rẽ chưa
bao giờ hiện diện. Biến cố 1945 đă
đặt mỗi người vào một vị trí dứt
khoát của ḿnh: hoặc ở phía này hoặc ở phía kia.
Không thể không có sự chọn lựa. Cuộc kháng
chiến toàn quốc bùng nổ 1946, đă làm nên lối
rẽ ấy cho tất cả mọi người dù
với tư cách cá nhân hay tư cách tập nhóm: theo kháng
chiến hay không theo kháng chiến.
Theo kháng chiến th́ rời bỏ thị thành
để lên chiến khu chống Pháp. Không theo kháng
chiến th́ ở lại các đô thị nằm trong
quyền kiểm soát của người Pháp. Sự
đối kháng nhau giữa những người trí
thức đứng ở hai phía này, đương nhiên phải
có dù nó nằm trong hay ngoài ư thức của họ. Nhưng
trong hoàn cảnh này có lẽ trước sau chỉ là cái
khoảng cách “Anh đi đường anh, tôi
đường tôi” mà thôi. Tạm đặt tên đây là
khoảng cách (a).
Khoảng cách trí thức bỗng trở nên vời
vợi, và sự đối kháng trở thành bất thân
thiện có lẽ mới chỉ có từ 1954 khi đất
nước bị chia đôi. Có hai nước Việt
Năm 1975 nội chiến chấm dứt bằng
chiến thắng quân sự của một bên này
đối với một bên khác. Đất nước
thống nhất lại, ḷng người chia tán ra. Ngay
từ những phút giây đầu người ở hai phía
đều có tên gọi riêng: Cách mạng, Ngụy. Do sự
dán nhăn ấy, mỗi người ở vị trí của
ḿnh phải cố đóng trọn vai tṛ lịch sử do
hoàn cảnh đưa đến.
Việc định danh để xác định
đối tượng trong mối tương quan lịch
sử hay xă hội, là b́nh thường. Nhưng đă có
sự lạm dụng những danh xưng ấy, cho nên t́nh
thế phải trở thành căng thẳng mà bước
đầu làm h́nh thành một thứ khoảng cách cứng
giữa những người mang hai danh nghĩa kể trên.
Khoảng cách trí thức ở đây là cứng và có vẻ
bất biến bởi nó vừa có tính chính trị, vừa
có tính triết học. Tạm gọi đây là khoảng
cách (c).
Vị trí chính trị bản chất thường
tương đối. Vị trí triết học
thường được xây dựng bằng tất
cả mọi khả năng biện minh và khả năng
độc chiếm. Cứng và bất biến là v́ thế.
Chính v́ vậy khoảng cách ở đây đă nảy thành
những nhánh khi mà cái cứng trở thành cái gịn, cái bất
biến trở thành cái vô ư thức bắt nguồn từ
sự lạm dụng. Và thế là ở trong sự ổn
định hiện tượng của khoảng cách là
sự biến thiên thực chất của mỗi tên
gọi.
Do
thái độ chủ quan không được kiềm
chế, do sự đóng không trọn vai tṛ lịch sử
của mỗi bên đối tượng, sự biểu
hiện của danh xưng đă có hiện tượng
chuyển từ cực này sang cực kia để xuất
hiện nhu cầu phân biệt chân Cách mạng với
ngụy Cách mạng cũng như chân Ngụy với
ngụy Ngụy. Vào khoảng một vài năm trước
và sau 1990, có không ít người mang tâm lư tự nhiên hóa
mỗi tên gọi và khoác cho chúng những ư nghĩa
được hiểu theo cách riêng. Tính nghiêm túc của
mỗi tên gọi không c̣n nữa, và chúng chỉ c̣n tồn
tại một phần trên các văn bản thể chế
mà thôi.
Sự tác động của biến thiên kể trên
vào khoảng cách đă khiến chúng không c̣n ổn
định cả về mặt hiện tượng
nữa. Tính cách phức tạp của vấn đề
bỗng được đẩy đi thêm một mức
nữa khi mà ở hải ngoại có sự hiện
diện của cả một cộng đồng
người Việt gốc Ngụy.
Ở trong nước, khoảng cách giữa Cách
mạng với Ngụy là một khoảng cách nhạy
cảm. Một mặt nó được thu hẹp lại
do t́nh tự dân tộc hoặc gia tộc, một mặt nó
được mở lớn ra do ḷng tị hiềm và thói
cố chấp. Một mặt nó được kêu gọi
xóa bỏ do mục đích tuyên truyền, nhưng một
mặt nó lại được củng cố do quyền
lợi chính trị. Trong t́nh thế ấy, ở một
bộ phận người không nhiều do nh́n ra
bước đi qui luật của lịch sử, đă
không c̣n thấy ở nó như một nguy cơ nữa. Tuy
thế nó vẫn là một nỗi nhức nhối khi mà sau
cả gần một phần tư thế kỷ nó cứ
được sử dụng trên các văn bản nhân thân,
nhất là trên các phương tiện truyền thông
đại chúng. Dù biến thiên thế nào, đấy
vẫn là khoảng cách (c).
Đối với người Việt hải
ngoại, đă xuất hiện cùng lúc hai khoảng cách
mới: một với người Cách mạng trong nước
và một với người Ngụy trong nước.
Người Cách mạng nh́n người Ngụy
hải ngoại với cái nh́n khá lạc quan, kể cả
trường hợp không ư thức: lên án ở giai
đoạn đầu, ca tụng ngoài miệng ở giai
đoạn sau. Về mặt lịch sử, người
Việt ở hải ngoại là đối tượng có
chính sách riêng của nhà nước Việt
Người Ngụy hải ngoại nh́n người
Cách mạng ở trong nước với cái nh́n có vẻ bi
quan hơn bởi tính cực đoan của một bộ
phận người ở đấy chi phối cả
cộng đồng, có thể đă làm nới rộng ra
cái khoảng cách (c) kể trên.
Xem
như vậy, khoảng cách này là hiện thân của hai
hướng cùng tồn tại mà không có hoàn cảnh
tiếp cận nhau. Tạm gọi đây là khoảng cách
(d).
Người Ngụy ở trong nước với
người Ngụy ở hải ngoại, tương quan
khởi đi từ một mẫu số chung, với
thời gian và trong điều kiện sống khác nhau
đă h́nh thành nên một khoảng cách giữa họ.
Từ sự ngộ nhận của những cá nhân
trong mỗi vế, khoảng cách ấy như một
biểu trưng của nỗi tuyệt vọng về thân
phận của chính ḿnh trong nhân thân cộng đồng giạt
trôi trong ḍng lịch sử mà bến bờ chưa thấy
là đâu. Và, mỗi cá nhân ở vị trí riêng ḿnh không nh́n
ra được vị trí của những cá nhân ở
vế bên kia, hiển nhiên đă duy tŕ và có thể là đă
làm tăng trưởng khoảng cách ấy mà bản
chất là nhân sinh, là xă hội trên một nền tảng
chính trị mù mờ. Tạm gọi đấy là khoảng
cách (e).
Cuối cùng, do sự tác động lẫn nhau
của hai khoảng cách (d) và (e), về mặt đại
thể bây giờ là sự hiện diện của một
khoảng cách tất yếu: khoảng cách giữa
người Việt ở trong nước với người
Việt hải ngoại. Không phải là khoảng cách (c)
đă được giải tỏa, mà chỉ là sự
lắng dịu đi với điều kiện là cái
vết thương chưa hết hẳn mủ kia không
bị những mũi dao nhọn đâm cho rách toạc cái
miệng của nó ra. Thật ra chẳng cần đến
một mũi dao, chỉ cần một tiếng xưng hô
xúc phạm nhau là đủ cho nỗi nhức nhối
sống dậy. Nếu cần xác định ra một
khoảng cách th́ tạm gọi đây là khoảng cách (g).
@
Lộ tŕnh trí thức với nhiều khoảng cách
ở từng thời điểm như thế, hiển
nhiên không phải là một lộ tŕnh suôn sẻ. Nhưng,
lịch sử cứ tiến bước, cuộc sống
cứ chảy trôi, sẽ chẳng có vấn đề nào
mà không được giải quyết.
Giải quyết cách nào, th́ không thuộc phạm vi bài
viết chủ yếu mang tính mô tả này.
Tôi
đề nghị nh́n vấn đề trên cái nền là
sự diễn biến tự nhiên của các thứ qui
luật. Như lớp trẻ rồi sẽ đến thay
vào một lớp già đă dần dần bị đào
thải. Cuộc sống không phải cứ măi măi thuộc
về một lớp người nào.
Mối quan tâm về cuộc sống của từng
thế hệ không giống như nhau, từ đó mọi
sự việc biến thiên theo kéo theo cả sự làm thay
đổi các hiện tượng xă hội. Những
khoảng cách mà ta nói trên kia là một hiện tượng
trong t́nh thế ấy. T́nh h́nh con người ở
Việt
Từ con đường lư tưởng và khép kín
hồi cuối thế kỷ XIX qua đầu thế
kỷ XX đến con đường thực dụng và
mở rộng hiện đại, là một sự thay
đổi lớn. Sự tiến bộ lớn và nhanh
của khoa học kỹ thuật đă tác động lên
tất cả. Con người ta sẽ nh́n nhau không phải
bằng những dị biệt mà bằng những
tương đồng do được điều
kiện hóa trong một tiến tŕnh xă hội toàn cầu. Những
đ̣i hỏi không ngừng của lớp trẻ về
tiện nghi đời sống sẽ đẩy nhanh thêm
sự đổi thay này. Từ đó lư tưởng
của họ không c̣n nằm ở chỗ mơ hồ hay
trừu tượng mà ở những điều cụ
thể hiển nhiên.
Tuy
thế, nếu cứ để mọi sự tự
diễn biến th́ e rằng các thứ qui luật kia
sẽ có thể đẩy đưa chúng ta đến
những chỗ rồi ra không kiểm soát được.
Có những giá trị hiển nhiên nhưng cũng có những
giá trị ẩn tàng phải nghĩ nhiều mới thấy. Cuộc sống
hạnh phúc cần có tiện
nghi nhưng cách sống c̣n cần hơn. Cái mà ta cần là
sự nghiệp chứ không là công danh, là thực chất
chứ không là sự phô trương. Xă hội ta hôm nay
đang hồi chuyển động, mọi thứ như
đang được đảo lộn lên, rất
cần đến sự ra tay của công việc giáo
dục. Sự uốn nắn nhân cách và tri thức của
việc giáo dục đ̣i hỏi một khoảng thời
gian dài. Nếu đến hôm nay mà công việc ấy
vẫn chưa đâu ra đâu cả như ta đang
thấy, th́ e rằng muộn mất! Trong khi thế
giới người ta thoát bước đi nhanh như
thế mà ta cứ lêt đẹt theo sau, th́ măi măi ta không
thoát ra khỏi được nạn đói nghèo mà trách
nhiệm phần lớn thuộc về người trí
thức.
Bước vào thế kỷ XXI, mọi thứ
khoảng cách vẫn c̣n như nguyên đó, lộ tŕnh trí
thức ta vẫn c̣n là những bước chông chênh, làm sao
lại không băn khoăn cho được? Với
mạng internet ngày nay, nó đem người ta gần
lại với nhau về mặt không gian nhưng không
phải là đă không làm người ta xa nhau về mặt
suy tưởng. Tôi muốn nói đến những nội
dung trên mạng có liên quan đến “Việt
Tôi
bỗng có một ư nghĩ hơi buồn về vận
nước xưa nay chẳng mấy khi không có chiến
tranh và chia tán, chẳng mấy khi được
hưởng thái b́nh mà không nhanh đi vào chỗ lúng túng
thậm chí bế tắc. Hay là tại cái tên nước,
cái huyền thoại dựng nước nó vận vào?
Nước ta tên là Việt Nam. Việt nam là vượt
về phương nam. Cả chiều dài lịch sử ta
đă vượt đi như thế, nhưng nay c̣n
phương nam nào nữa để mà vươn tới?
Thế nước ta thế đấy, đâu phải
chỉ có đường t́m đi mà c̣n phải nghĩ
đến đường trụ lại chứ? Không
vững cách trụ lại th́ rồi ra có thể mất
cả.
Và, ta là con của cha Lạc
Long Quân và mẹ Âu Cơ, nhưng mẹ ta với cha ta
xưa sao lại mỗi người một nẻo?
Một nửa theo cha xuống biển, một nửa theo
mẹ lên núi, hiểu rồi, ta phải chia nhau đi mà cai
quản giang sơn, nhưng nh́n bằng con mắt bây
giờ ta tránh sao khỏi có ư nghĩ về một gia
đ́nh ly tán?
Cả cái dáng cái h́nh của
nước nữa, nó như chữ S, nh́n sao ra vẻ gian
truân?
Cả cái cách cai quản xă
hội này, giang sơn cẩm tú của ta giàu có tài nguyên này,
không khéo ra ta cứ chỉ biết ăn vào mớ của
cải ông bà để lại măi th́ đến một ngày
kia đâu có c̣n ǵ?
Nền tảng của một
khả năng tồn tại và đi xa được, rút
lại ta trông vào các điều kiện địa lư,
lịch sử, xă hội. Địa lư của ta là
địa lư mở, nó tạo ra các cơ hội để
ta ngó ra bên ngoài mà bước tới. Lịch sử dân
tộc ta là lịch sử hào hùng, nó kích thích tinh thần yêu
nước thương ṇi trong mọi hoàn cảnh ta không
chịu để bị gục ngă. Xă hội ta không có
chỗ cho những tư tưởng tôn giáo quá khích, nó giúp ta
tránh được những cuộc tàn sát vô nghĩa,
cũng do đấy không có một cuộc vận
động chính trị nào nhân danh tôn giáo mà có thể thành
công được. Đặc biệt ta có ngôn ngữ
thống nhất, qua đó nhân cách và trí tuệ mỗi
người chúng ta có cơ hội đồng đều
để có thể phát huy.
Nhưng, c̣n một khả
năng để tồn tại và đi xa mang tính quyết
định, th́ gần như thiếu vắng: yếu
tố con người. Về yếu tố này, tôi có
một ư nghĩ không mấy lạc quan như thế này:
người Việt ḿnh, cái khả năng tồn tại
th́ lớn nhưng cái khả năng phát triển th́ hầu
như không có ǵ.
Thế kỷ XX khép lại
trong mối ưu tư trí thức Việt Nam, cũng là
mối ưu tư của hơn tám mươi lăm
triệu con dân hiện diện hôm nay.
N.V. Đ.