Nguyễn Cao Kỳ, ông là ai?

Đỗ Văn Minh 

 

Ngày 10 tháng 10 năm 2008

 

Anh Đặng văn Âu thân mến,

 

Những năm từ 1975 về trước, anh đă có nhiều dịp tiếp xúc trực tiếp với tướng Kỳ v́ anh  từng là thuộc cấp của ông tại Liên Phi Đoàn Vận Tải. Ra hải ngoại này, anh vẫn giữ được mối giây liên lạc với ông và đă lại nhiều lần cùng ông găp gỡ chuyện tṛ, tâm sự. Tất nhiên anh có sự hiểu biết về ông qua nhiều khía cạnh.    

 

Tôi th́ lại khác hẳn. Tuy là người cùng quê quán với ông tại tỉnh Sơn Tây miền Bắc, nhưng với tôi, ông vẫn c̣n là con người xa lạ. Tôi sống tại Hà Nội từ nhỏ cho đến cuối năm 1943, lúc đó để tránh bom Mỹ, mới chuyển lên học tiếp lớp 3 (cours élémentaire) bậc tiểu học tại Sơn Tây, ở với bà nội dưới sự cai quản của ông chú ruột. Sơn Tây là một thị trần nhỏ, người ta dễ tiếp xúc với nhau và quen biết nhau nhiều. Cho nên tôi cũng nghe nói và biết đến vài người thuộc lớp trên trong gia đ́nh tướng Kỳ. Chẳng hạn thân mẫu ông có hăng xe hơi Mỹ Lâm chở khách chạy đường Hà Nội – Sơn Tây – Trung Hà, xe sơn hai màu trắng đỏ. Ông có một ông chú từng du học bên Pháp… Tướng Kỳ lúc đó cũng chỉ là một cậu học sinh trên tôi vài lớp, hoặc đang học trung học tại Hà Nội, thành ra tôi không biết đến cũng  là chuyện thường. Sơn Tây c̣n có tướng Lê Nguyên Khang cùng lứa tuổi và dường như học cùng lớp với ông, trong khi tôi học chung với anh Lê Nguyên Khánh, em tướng Khang; trong lớp tôi c̣n các anh Phạm Huy Sảnh (Sảnh “Bệu”), Nguyễn Năng Tế, Trần Đ́nh Ḥa … Ca sỹ Khuất Duy Trác nhỏ hơn tôi 1 tuổi và học sau tôi 1 lớp, với Nguyễn Năng Tế, là bạn cùng phố, hàng ngày cùng nhau đánh bi đánh đáo, rôi về sau trong những ngày tiép theo cách mạng tháng 8, 1945 lại cùng nhau vác súng gỗ đi diễn hành lớn miệng ca vang “Nhanh bước nhanh nhi đồng …” và “Không ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đổng”.

 

Thế rồi năm tháng lần lần qua đi: đầu 1947, tản cư vào miền núi; cuối 1948, hồi cư về Hà Nội; đầu tháng 8, 1954, di cư vào Nam,… Thấm thoát đến tháng 6 năm 1963, sau khi bị gọi nhập ngũ và măn khóa 14 trường sỹ quan trừ bị Thủ Đức, nhóm chúng tôi gồm 15 người được tuyển lựa sang Không Quân. Chúng tôi theo học một lớp căn bản về ngành chuyên môn trong 4 tuần được tổ chức tại Bộ Tư Lệnh Không Quân. Dưới thời đệ nhất cộng ḥa, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, việc lên lon rất khó khăn, nhiều người nằm ở 1 cấp bậc 7, 8 năm là chuyện thường. Bởi vậy, tại BTL/KQ, số sỹ quan cấp tá đếm được trên đầu ngón tay. Tôi c̣n nhớ lúc đó có Đ/Tá Huỳnh Hữu Hiền Tư Lệnh, Tr/Tá Đỗ Khắc Mai Tham Mưu Trưởng, Th/Tá Vơ Công Thống Trưởng Khối Nhân Viên, Th/Tá Nguyễn Văn Lượng Trưởng Khối Hành Quân, Th/Tá Đặng Đ́nh Linh Trưởng Khối Không Cụ, Tr/Tá Vơ Dinh Trưởng Pḥng Tâm Lư Chiến, Th/Tá Lê Văn Sai, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh. Tất cả có 7 sỹ quan cấp tá. Nếu tôi có quên th́ cũng chỉ thêm 1 tới 2 người nữa là cùng. Tại căn cứ Tân Sơn Nhất, có thêm Tr/Tá Phạm Ngọc Sang, Chỉ Huy Trưởng căn cứ kiêm Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn Liên Lạc 312, Tr/Tá Nguyễn Cao Kỳ Chỉ Huy Trưởng Liên Phi Đoàn Vận Tải (lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên Nguyễn Cao Kỳ), Th/Tá Trần Văn Minh Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Không Chiến, Th/Tá Nguyễn Ngọc Loan Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy Không Chiến. Các Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn hầu hết đều mang cấp bậc Đ/Úy. Tại Tân Sơn Nhất, Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn Không Thám 716 là Đ/Úy Hà Xuân Vịnh, Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn Quan Sát 112 là Đ/Úy Đặng Hữu Hiệp, Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn Trực Thăng 211 là Đ/Úy Nguyễn Huy Ánh. Hai Phi Đoàn Khu Trục, 514 tại Biên Hoà Chỉ Huy Trưởng là Đ/Úy Nguyễn Quang Tri, và 516 tại Nha Trang Chỉ Huy Trưởng là Đ/Úy Phạm Long Sửu.

 

Măn khóa học, chúng tôi được phân phối đi các đơn vị, và tôi được bổ nhiệm về Bộ Chỉ Huy Không Chiến (AOC – Air Operations Center) tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Trong 4 chức vụ chỉ huy đầu năo của đơn vị này th́ ngoài Chỉ Huy Trưởng và Chỉ Huy Phó, Th/Tá Trần Văn Minh và Th/Tá Nguyễn Ngọc Loan, c̣n có Trưởng Pḥng Kế Hoạch, Đ/Úy Nguyễn Hữu Tần và Trưởng Pḥng Hành Quân, Đ/Úy Vũ Văn Ước.

 

Sau mấy tuần đầu, khi đă quen với công việc hàng ngày, những lúc rảnh rang, tôi thường chuyện tṛ cùng mấy hạ sỹ quan trong ban, trong số có 1 thượng sỹ ở trong quân ngũ từ năm đầu thập niên 50 trong quân đội Pháp. Rồi tôi la cà sang các ban khác, ngồi uống cà phê lóng tai nghe các hạ sỹ quan ‘cà kê dê ngỗng’ chuyện trong chuyện ngoài, những sự hay tích lạ trong Không Quân từ thời tiền sử trở về sau. Có những nhân vật như Trung Sỹ Đăng ban Hành Chánh, cũng là một thi sỹ từng có thơ đăng báo; như Trung Sỹ I Phong ban Không Vận, người đă từng học bay tại trường Aulnat từ 1953 trong khóa sau c̣n lại 13 người, với những hoa tiêu danh tiếng như Huỳnh Hữu Bạc, Phạm Phú Quốc… Anh Phong v́ không đủ khả năng bay nên bị loại về nước đeo lon Trung Sỹ; như Trung sỹ I Cơ ban Thống Kê, người cũng đă từng sang Pháp học làm phi công nhưng v́ không có ‘khiếu’ bay nên, giống như anh Phong, đă trở thành một loài Không Quân ‘ḅ sát’.  Qua các câu chuyện thuộc loại ‘trà dư tửu hậu’ từ các hạ sỹ quan thâm niên này, tôi mới được biết đến cái uy thế của vị Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn Liên Lạc, thường lái máy bay cho Tổng Thống Diệm, cái ngang tàng của hai Đ/Úy gốc nhảy dù họ Nguyễn và họ Hoàng, cái đức tinh ‘nể vợ’ của Đ/Úy Trưởng Pḥng Hành Quân, cái khí phách, quả cảm của vị Chỉ Huy trưởng Liên Phi Đoàn Vận Tải, cái tính ù lỳ của ông Tr/Tá họ Vơ, và cái “hách” của Th/Tá Chỉ Huy Truởng Trung Tâm Huấn Luyện KQ, …

 

Tôi làm việc tại Bộ Chỉ Huy Không Chiến được đúng 3 tháng th́ xảy ra vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11, 1963. Chúng tôi chỉ biết đi ra đi vào nghe ngóng t́nh h́nh, hầu như không có việc ǵ để làm cả. Chừng 3 giờ chiều, khi bước vào pḥng Hành Quân, tôi chợt thấy Tr/Tá Đỗ Khắc Mai, Tham Mưu Trưởng, trong quân phục làm việc, đang điện đàm với một giới chức Hải Quân, dường như là Hải Quân Tr/Tá Chung Tấn Cang. Ông nói chuyện mà mồ hôi ướt đẫm trán, tay run run cầm ống liên hợp, hiển nhiên là đang trong t́nh trạng vô cùng xao động. Sau khi tôi trở về pḥng làm việc, ông ra đi lúc nào tôi cũng không hay, dù cửa pḥng của ban tôi làm việc lúc nào cũng mở và trông ngay ra hành lang dẫn tới pḥng Hành Quân. Ông đi làm cách mạng mà sao thấy cô đơn, âm thầm quá, không thấy có một người thân cận nào đi theo để hỗ trợ, bảo vệ pḥng khi hữu sự. Gần 1 giờ sau đến lượt Tr/Tá Nguyễn Cao Kỳ, mặc bộ đồ bay màu xám của KQVN, được hộ tống chung quanh bởi một nhóm quân nhân vơ trang cùng ḿnh, tất cả rùng rùng đi tới. Đây là lần đầu tiên tôi thấy mặt Tr/Tá Nguyễn Cao Kỳ. Ông cũng vào pḥng Hành Quân, bốc điện thoại điều động phi cơ cho Không Quân nhập cuộc, với giọng nói dơng dạc, quả quyết, và thái độ ung dung, b́nh tĩnh, khác hẳn với cung cách của vị Tr/Tá Tham Mưu Trưởng trước đó không lâu. Sau đó, ông băng qua Đài Kiểm Báo Paris ngay phía bên kia đường đối diện với Bộ Chỉ Huy Không Chiến, hẳn là để theo dơi phi vụ oanh kích Lữ Đoàn Pḥng Vệ trong Thành Cộng Hoà. Phi vụ này do hai Th/Úy Tường “Mực” và Long “Con” thuộc Phi Đoàn 716 thực hiện.

 

Sau khi cách mạng thành công, Tr/Tá Đỗ Khắc Mai lên cấp Đ/Tá nhưng ông cũng chỉ ở chức vụ Tư Lệnh KQ được có mấy tuần rồi phải nhường chức cho Đ/Tá Nguyễn Cao Kỳ. Riêng tại Bộ Chĩ Huy Không Chiến, Đ/Úy Vũ Văn Ước, Trưởng Pḥng Hành Quân và Đ/Úy Phan Văn Minh, Trưởng Toán Trực Hành Quân trong buổi chiều ngày đảo chánh được thăng cấp Th/Tá, Th/Tá Chỉ Huy Phó Nguyễn Ngọc Loan, người đă âm thầm đi làm cách mạng, được lên cấp Tr/Tá rồi được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng KQ. Th/Tá Chỉ Huy Trưởng Trần Văn Minh và Đ/Úy Trưởng pḥng Kế Hoạch Nguyễn Hữu Tần vẫn mang cấp bậc cũ. Riêng Th/Tá Chỉ Huy Trưởng, cho đến hơn 1 tháng sau, đầu năm 1964 mới đeo lon Tr/Tá lên Pleiku nắm quyền Tư Lệnh Không Đoàn 62, Không Đoàn Biên Trấn và cũng là Không Đoàn đầu tiên của Không Lực VNCH.

 

Vài tuần sau khi đáo nhiệm chức vụ, Tư Lệnh Nguyễn Cao Kỳ có một buổi gặp mặt tất cả các quân nhân trong căn cứ TSN tại câu lạc bộ hạ sỹ quan Lê Văn Lộc. Ông nói những gí, nay tôi quên hết, chỉ c̣n nhớ cái câu ông nhấn mạnh là ông không theo đảng phái nào và cũng không muốn có đảng phái trong quân đội. Ông c̣n nói đùa thêm rằng nếu có cái đảng nào để ông theo th́ cái đảng đó chỉ có thể là đảng Không Quân mà thôi, và nếu chúng ta đoàn kết th́ có cái đảng nào mạnh hơn được cái đảng Không Quân này.  Anh bạn cùng ngành ngồi cạnh th́ thấm bên tai tôi: “Có cái đảng Bộ Binh nó mạnh hơn đảng Không Quân”. Tôi phản đối: “Đảng Bộ Binh lớn hơn Đảng Không Quân thực, nhưng nó thường không đoàn kết, hay chia năm sẻ bẩy th́ sức mạnh đâu c̣n là bao.”. Đây là lần thứ nh́ tôi thấy mặt ông, lần này xa cách hơn, ông trên sân khấu, tôi bên dưới ngồi măi tận phía đằng xa.

 

Trong mấy năm sau, tôi chỉ nghe và biết về ông qua báo chí, đài phát thanh và sau này, qua đài truyền h́nh khi những việc ông làm được phổ biến như dẫn các phi tuần ra oanh kích ngoài Bắc, được hội đồng tướng lănh dề cử giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ Tướng), các chuyến công du ngoại quốc, vụ dẹp tan phiến loạn miền Trung, … Khi ông thôi không làm chính trị nữa, đôi khi tôi thấy ông ra vào Tư Lệnh Bộ KQ thăm Tư Lệnh Trần Văn Minh. Lần cuối tôi thấy ông tại VN là vào khoảng 9 giờ sáng ngày 29 tháng 4, 1975 khi ông vào BTL/KQ họp hành lần chót chi đó với các tướng lănh Không Quân và Bộ Binh. Ít phút sau khi ông lên trực thăng ra đi th́ Không Quân cũng chính thức tan hàng, không kèn không trống.

 

Tôi lại có dịp gặp ông mấy tuần sau trên quăng đường di tản. Khoảng trung tuần tháng 5, 1975, tôi t́nh cờ thấy ông ở Camp Pendleton, California, trạ́ nào tôi không nhớ rơ (Camp Pendleton tất cả có 8 khu trại tỵ nạn). Lúc đó, ông đang được báo chí ngoại quốc phỏng vấn ngoài trời, có nhiều dân tỵ nạn vây quanh ṭ ṃ theo dơi những câu hỏi đáp. Tôi rời đám đông sau khi nhóm người này chuyển cuộc phỏng vấn vào bên trong căn lều nơi ông đang tạm trú. Những năm sau, đọc tin trên báo chí, tôi biết ông mưu sinh bằng cách mở tiệm rượu tại California, sau đó xuống tiểu bang Louisiana mua tàu đi đánh tôm, đánh cá.

 

Lại hơn 10 năm trôi qua, thấm thoát đă sang năm 1986. Tôi vốn là con người chậm lụt, làm ǵ cũng đi sau thiên hạ. Cho nên sống ở Hoa Kỳ đă trên 10 năm, tôi mới dám mon men bước chân ra bên ngoài tiểu bang. Tất nhiên là đi lần đầu th́ phải đến California, tiểu bang có đông người Việt tỵ nạn nhất. Gia đ́nh tôi đến San Jose và ở nhà một người quen cũ, anh Trần Đăng Minh, cũng thường được gọi là Minh “Râu”. Anh Minh “Râu” nguyên gốc tiểu đoàn 6 nhảy dù, sau được tuyển về làm trong đội cận vệ cho Thủ Tướng rồi Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Khi đội cận vệ giải tán lúc Tướng Kỳ không làm chính trị nữa để về Khánh Dương khai khẩn đồn điền th́ anh Minh được chuyển sang Không Quân làm việc trong Khối của tôi tại BTL/KQ. Tuy không c̣n phục vụ tướng Kỳ nữa, nhưng anh vẫn một ḷng kính trọng người chỉ huy lúc trước và tướng Kỳ mỗi khi lên vùng bắc Cali cũng thường đến gặp và được anh mời cư ngụ tại nhà. Khi anh Minh “Râu” đưa chúng tôi xuống thăm Orange County, thủ đô của người Việt tỵ nạn, anh đă đề nghị là nhân dịp này anh muốn gặp Tướng Kỳ, và muốn mời ông cùng đi ăn trưa. Anh gọi điện thoại và sau vài câu thăm hỏi đă ngỏ lời mời. Ông nhận lời ngay, không chút ngần ngại. Đúng giờ, ông đến gặp chúng tôi tại một tiệm ăn trong khu Bolsa, trang phục giản dị, quần dài trắng, áo trắng tay ngắn, dắt theo 2 đứa cháu nội trạc 7, 8 tuổi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi có dịp trực tiếp cùng ông chuyện tṛ. Nhưng đúng ra, tôi chỉ nghe nhiều hơn là nói. Tới nay, thực sự tôi không nhớ rơ những câu chuyện trong bữa ăn trưa đó như thế nào, v́ dường như ông chỉ kể về người này người nọ, chuyện này chuyện nọ, những người và những chuyện hoàn toàn chỉ có tính cách thời sự b́nh thường. Giản dị vậy thôi! Sau hơn 1 giờ, bữa ăn kết thúc, ông từ biệt chúng tôi, lại tay dắt cháu lững thững ra đi. Tôi tin rằng ông không c̣n nhớ đến bữa ăn này, nói chi là nhớ đến tôi, một kẻ trong suốt bữa ăn chỉ nói ra vài câu đưa đẩy. Tôi tự nghĩ không biết có nhà lănh đạo tối cao của quốc gia VN thời trước 1975, như Tổng Thống Thiệu, như Thủ Tướng Khiêm, như Cố Vấn Quang, …  có được cái tác phong b́nh dị như thế không, cái thái độ và cung cách như của một người dân b́nh thường. Và hiển nhiên là v́ vậy ông mới không hề mang mặc cảm khi đứng bán rượu 12 giờ một ngày, khi phải dầm sương dăi nắng đánh tôm, đánh cá ngoài biển khơi, những công việc vất vả thực nhưng hoàn toàn lương thiện, tuy không xứng với địa vị của ông trước kia. Và một người, trên phương diện chính trị, đă từng gặp gỡ, họp bàn với các nguyên thủ quốc gia như Tổng Thống Hoa Kỳ, như Thủ Tướng Úc, như Quốc Vương Thái Lan, … lại không mảy may ngần ngại khi giao thiệp thân t́nh với một thuộc cấp cũ hàng hạ sỹ quan như anh Minh “Râu” này, cách đối xử như vậy thật là hiếm có. Anh Minh “Râu”, nhiều năm sau, c̣n cho tôi biết tướng Kỳ đă rất vui vẻ từ miền Nam lên tận miền Bắc Cali để tham dự tiệc cưới của con gái anh và chung vui cùng gia đ́nh anh. Tôi thấy, khi nói, anh đă tỏ ra hết sức xúc động và rất lấy làm vinh hạnh về cách thái độ đầy t́nh người này của tuớng Kỳ.

 

Anh Âu thân mến,

 

Qua sự quen biết từ gần 5 năm nay với vài thân hữu vùng Houston trong số đó có anh, tôi lại lần đầu được tiếp chuyện tướng Kỳ qua điện thoại. Trong một lần các anh chị tụ họp hàn huyên cùng tướng Kỳ dịp ông qua thăm Houston cách nay 2 năm, anh đă có nhă ư gọi đến tôi để cho tôi có dịp nói chuyện với ông. Sau vài câu thăm hỏi thông thường, tôi hỏi thẳng: “Thiếu tướng người gốc Sơn Tây, vậy thiếu tướng có biết ông Nguyễn danh Sành không?”. Ông trả lời ngay: “Biết chứ, ông ấy là chú tôi mà”. Ông Nguyễn danh Sành có bằng tiến sỹ văn chương tại Pháp. Trong các năm cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, ông là Tổng Thư Kư trường Đại Học Y khoa Saigon. Các vị bác sỹ Không Quân học Y Khoa vào gian đó chắc hẳn c̣n nhớ. Một ông chú khác của tướng Kỳ, em ruột ông Nguyễn danh Sành, là ông Nguyễn danh Sỏi, đă bị quân Pháp bắt và sát hại trong dịp chúng hành quân lên Sơn Tây tháng 5 năm 1948 v́ ông này đang giữ chức vụ ǵ đó trong ủy ban hành chánh kháng chiến tỉnh. Trong câu chuyện với tướng Kỳ dài không tới 10 phút, chúng tôi chỉ nhắc lại những chuyện cũ về Sơn Tây chứ không đả động ǵ đến những ǵ khác. Tôi cũng không nhắc nhở đến buổi cùng ông ăn trưa tại khu Bolsa 20 năm trước. Cũng nhờ anh, tôi c̣n được điện đàm thêm với ông đâu chừng 2 lần nữa. Vẫn những chuyện về Sơn Tây, hoặc những câu thăm hỏi gia cảnh. Mỗi lần không qúa 5 phút.

 

Như vậy đó, tất cả những ǵ tôi trực tiếp biết về tướng Kỳ, những tiếp xúc của tôi với ông, tôi đă kể ra hết. Tầm thường quá, vụn vặt quá, nhạt nhẽo quá, có phải vậy không, anh Âu? Nhưng có sao tôi nói vậy. Và với tôi, chùng ấy cũng đủ để tôi hiểu con người của ông như thế nào. Tôi không hề nghe ông kể lại những chuyện xưa thời ông c̣n “làm lớn” trước 1975, không hề nghe ông thốt ra những lời chê bai nói xấu bất cứ một người nào khác, ngay cả những kẻ đă và đang toa rập nhau kịch liệt chỉ trích ông, trong số có cả một vài người trước kia từng được ông ban cho ân huệ. Nhưng thói đời là vậy!

 

Tuy thế, tôi thấy vẫn c̣n có mốt số người mang tấm ḷng chung thủy, trước sau như nhất. Như thí dụ trong đoạn văn sau đây:

 

C̣n chuyện ông Kỳ uống rượu, ăn cơm với những người mà một số người đă khe khẽ th́ thầm cho là anh chị, th́ không thể bảo ông Kỳ là trùm anh chị. Phần lớn những người đó (c̣n lại là bạn bè của những người đó) là chiến hữu của ông, ngày xưa là cận vệ cho ông, đem thân ra bảo vệ ông, ngoài t́nh chiến hữu c̣n nghĩa thầy tṛ, gặp nhau trong hoàn cảnh tha hương cùng uống một ly rượu, ăn một miếng cơm với nhau th́ có ǵ coi không được? Trong hiện cảnh của ông Kỳ, thất cơ lỡ vận, họ vẫn trọng t́nh cũ nghĩa xưa, tới lui thăm viếng, thủy chung như nhất, th́ họ là những người đáng qúy thật sự. C̣n hơn chán vạn lần những kẻ ngày xưa ông Kỳ chưa hô đă dạ, chưa bảo đă vâng, xum xoe nịnh hót đủ điều, bợ đít đủ kiểu, mà bây giờ “né” ông, lại c̣n nói xấu nói xiêng ông, th́ quả là coi chẳng đặng.” (Bài “Lại Bắn”, trang 104-105)

  

Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm “Chốn lao xao” của cố Tư Lệnh KQ, Trung Tướng Trần Văn Minh, xuất bản vào năm 1998. Trung Tướng Trần Văn Minh được Tướng Kỳ nâng đỡ, vào năm 1967, đưa lên chức vụ đứng đầu quân chủng KQ. Trung Tướng Minh là một con người t́nh nghĩa, ông không hề quên cái chuyện được tướng Kỳ đề bạt đó. Vào những năm 1972 trở về sau, tướng Kỳ không c̣n giữ một chức vụ chính thức nào ngoài dân sự cũng như trong quân đội. Ông không c̣n quyền lực, thế lực ǵ nữa, Vậy mà tướng Minh đối với tướng Kỳ vẫn một ḷng kính trọng. Tôi c̣n nhớ rơ trong thời gian này, đă mấy lần tôi đứng ngoài hành lang trên lầu truớc pḥng làm việc nh́n sang tiền đ́nh tư lệnh bộ phía bên trái và thấy tướng Minh tiễn tướng Kỳ ra xe. Sau khi hai tướng bắt tay nhau, Trung Tướng Trần Văn Minh đứng nghiêm, thẳng người chào Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Và tướng Kỳ, trước khi lên xe, cũng nghiêm ḿnh chào lại.

 

Anh Âu thân mến,

 

Tuy có đôi khi, riêng cá nhân tôi không đồng ư về cách hành xử của cố Tư Lệnh, Trung Tướng Trần Văn Minh trong thời kỳ gần 9 năm tôi phục vụ tại Bộ Tư Lệnh KQ, nhưng tôi phải công nhận ông là một con người chung thuỷ. V́ vậy, tôi vẫn đem ḷng thầm kính ông ở cái đức tính hiếm có và đáng qúy này.

 

Anh cũng biết tướng Minh nhiều. Chắc hẳn anh cũng đồng ư.

 

Thân ái,

Đỗ Văn Minh