Nguyễn Cao Kỳ, ông là ai?
Đỗ Văn Minh
Ngày 10 tháng 10 năm
2008
Anh Đặng văn
Âu thân mến,
Những
năm từ 1975 về trước, anh đă có nhiều
dịp tiếp xúc trực tiếp với tướng
Kỳ v́ anh từng là
thuộc cấp của ông tại Liên Phi Đoàn Vận
Tải. Ra hải ngoại này, anh vẫn giữ
được mối giây liên lạc với ông và đă
lại nhiều lần cùng ông găp gỡ chuyện tṛ,
tâm sự. Tất nhiên anh có sự hiểu biết về ông
qua nhiều khía cạnh.
Tôi
th́ lại khác hẳn. Tuy là người cùng quê quán với
ông tại tỉnh Sơn Tây miền Bắc, nhưng
với tôi, ông vẫn c̣n là con người xa lạ. Tôi
sống tại Hà Nội từ nhỏ cho đến
cuối năm 1943, lúc đó để tránh bom Mỹ,
mới chuyển lên học tiếp lớp 3 (cours élémentaire)
bậc tiểu học tại Sơn Tây, ở với bà
nội dưới sự cai quản của ông chú ruột.
Sơn Tây là một thị trần nhỏ, người ta
dễ tiếp xúc với nhau và quen biết nhau nhiều. Cho
nên tôi cũng nghe nói và biết đến vài người
thuộc lớp trên trong gia đ́nh tướng Kỳ.
Chẳng hạn thân mẫu ông có hăng xe hơi Mỹ Lâm
chở khách chạy đường Hà Nội – Sơn Tây –
Trung Hà, xe sơn hai màu trắng
đỏ. Ông có một ông chú từng du học bên Pháp…
Tướng Kỳ lúc đó cũng chỉ là một
cậu học sinh trên tôi vài lớp, hoặc đang học
trung học tại Hà Nội, thành ra tôi không biết
đến cũng là chuyện
thường. Sơn Tây c̣n có tướng Lê Nguyên Khang cùng
lứa tuổi và dường như học cùng lớp
với ông, trong khi tôi học chung với anh Lê Nguyên Khánh, em
tướng Khang; trong lớp tôi c̣n các anh Phạm Huy
Sảnh (Sảnh “Bệu”), Nguyễn Năng Tế,
Trần Đ́nh Ḥa … Ca sỹ Khuất Duy Trác nhỏ hơn
tôi 1 tuổi và học sau tôi 1 lớp, với Nguyễn
Năng Tế, là bạn cùng phố, hàng ngày cùng nhau đánh
bi đánh đáo, rôi về sau trong những ngày tiép theo cách
mạng tháng 8, 1945 lại cùng nhau vác súng gỗ đi
diễn hành lớn miệng ca vang “Nhanh bước nhanh nhi
đồng …” và “Không ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi
đổng”.
Thế
rồi năm tháng lần lần qua đi: đầu 1947,
tản cư vào miền núi; cuối 1948, hồi cư
về Hà Nội; đầu tháng 8, 1954, di cư vào
Măn
khóa học, chúng tôi được phân phối đi các
đơn vị, và tôi được bổ nhiệm
về Bộ Chỉ Huy Không Chiến (AOC – Air Operations Center)
tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Trong 4 chức
vụ chỉ huy đầu năo của đơn vị này
th́ ngoài Chỉ Huy Trưởng và Chỉ Huy Phó, Th/Tá
Trần Văn Minh và Th/Tá Nguyễn Ngọc Loan, c̣n có
Trưởng Pḥng Kế Hoạch, Đ/Úy Nguyễn Hữu
Tần và Trưởng Pḥng Hành Quân, Đ/Úy Vũ Văn
Ước.
Sau
mấy tuần đầu, khi đă quen với công việc
hàng ngày, những lúc rảnh rang, tôi thường chuyện
tṛ cùng mấy hạ sỹ quan trong ban, trong số có 1
thượng sỹ ở trong quân ngũ từ năm
đầu thập niên 50 trong quân đội Pháp. Rồi tôi
la cà sang các ban khác, ngồi uống cà phê lóng tai nghe các
hạ sỹ quan ‘cà kê dê ngỗng’ chuyện trong chuyện
ngoài, những sự hay tích lạ trong Không Quân từ
thời tiền sử trở về sau. Có những nhân
vật như Trung Sỹ Đăng ban Hành Chánh, cũng là
một thi sỹ từng có thơ đăng báo; như
Trung Sỹ I Phong ban Không Vận, người đă từng
học bay tại trường Aulnat từ 1953 trong khóa sau
c̣n lại 13 người, với những hoa tiêu danh
tiếng như Huỳnh Hữu Bạc, Phạm Phú
Quốc… Anh Phong v́ không đủ khả năng bay nên
bị loại về nước đeo lon Trung Sỹ;
như Trung sỹ I Cơ ban Thống Kê, người
cũng đă từng sang Pháp học làm phi công nhưng v́
không có ‘khiếu’ bay nên, giống như anh Phong, đă
trở thành một loài Không Quân ‘ḅ sát’. Qua các câu chuyện thuộc
loại ‘trà dư tửu hậu’ từ các hạ sỹ
quan thâm niên này, tôi mới được biết đến
cái uy thế của vị Chỉ Huy Trưởng Phi
Đoàn Liên Lạc, thường lái máy bay cho Tổng
Thống Diệm, cái ngang tàng của hai Đ/Úy gốc
nhảy dù họ Nguyễn và họ Hoàng, cái đức tinh
‘nể vợ’ của Đ/Úy Trưởng Pḥng Hành Quân, cái
khí phách, quả cảm của vị Chỉ Huy
trưởng Liên Phi Đoàn Vận Tải, cái tính ù lỳ
của ông Tr/Tá họ Vơ, và cái “hách” của Th/Tá Chỉ Huy
Truởng Trung Tâm Huấn Luyện KQ, …
Tôi
làm việc tại Bộ Chỉ Huy Không Chiến
được đúng 3 tháng th́ xảy ra vụ đảo
chánh ngày 1 tháng 11, 1963. Chúng tôi chỉ biết đi ra đi
vào nghe ngóng t́nh h́nh, hầu như không có việc ǵ
để làm cả. Chừng 3 giờ chiều, khi
bước vào pḥng Hành Quân, tôi chợt thấy Tr/Tá
Đỗ Khắc Mai, Tham Mưu Trưởng, trong quân
phục làm việc, đang điện đàm với
một giới chức Hải Quân, dường như là
Hải Quân Tr/Tá Chung Tấn Cang. Ông nói chuyện mà mồ hôi
ướt đẫm trán, tay run run cầm ống liên
hợp, hiển nhiên là đang trong t́nh trạng vô cùng xao
động. Sau khi tôi trở về pḥng làm việc, ông ra
đi lúc nào tôi cũng không hay, dù cửa pḥng của ban tôi
làm việc lúc nào cũng mở và trông ngay ra hành lang dẫn
tới pḥng Hành Quân. Ông đi làm cách mạng mà sao thấy cô
đơn, âm thầm quá, không thấy có một
người thân cận nào đi theo để hỗ
trợ, bảo vệ pḥng khi hữu sự. Gần 1
giờ sau đến lượt Tr/Tá Nguyễn Cao Kỳ,
mặc bộ đồ bay màu xám của KQVN,
được hộ tống chung quanh bởi một nhóm
quân nhân vơ trang cùng ḿnh, tất cả rùng rùng đi tới.
Đây là lần đầu tiên tôi thấy mặt Tr/Tá
Nguyễn Cao Kỳ. Ông cũng vào pḥng Hành Quân, bốc
điện thoại điều động phi cơ cho
Không Quân nhập cuộc, với giọng nói dơng dạc, quả
quyết, và thái độ ung dung, b́nh tĩnh, khác hẳn
với cung cách của vị Tr/Tá Tham Mưu Trưởng
trước đó không lâu. Sau đó, ông băng qua Đài
Kiểm Báo Paris ngay phía bên kia đường đối
diện với Bộ Chỉ Huy Không Chiến, hẳn là
để theo dơi phi vụ oanh kích Lữ Đoàn Pḥng Vệ
trong Thành Cộng Hoà. Phi vụ này do hai Th/Úy Tường
“Mực” và Long “Con” thuộc Phi Đoàn 716 thực hiện.
Sau
khi cách mạng thành công, Tr/Tá Đỗ Khắc Mai lên
cấp Đ/Tá nhưng ông cũng chỉ ở chức
vụ Tư Lệnh KQ được có mấy tuần
rồi phải nhường chức cho Đ/Tá Nguyễn
Cao Kỳ. Riêng tại Bộ Chĩ Huy Không Chiến,
Đ/Úy Vũ Văn Ước, Trưởng Pḥng Hành Quân và
Đ/Úy Phan Văn Minh, Trưởng Toán Trực Hành Quân trong
buổi chiều ngày đảo chánh được
thăng cấp Th/Tá, Th/Tá Chỉ Huy Phó Nguyễn Ngọc
Loan, người đă âm thầm đi làm cách mạng,
được lên cấp Tr/Tá rồi được
cử giữ chức Tham Mưu Trưởng KQ. Th/Tá
Chỉ Huy Trưởng Trần Văn Minh và Đ/Úy
Trưởng pḥng Kế Hoạch Nguyễn Hữu Tần
vẫn mang cấp bậc cũ. Riêng Th/Tá Chỉ Huy
Trưởng, cho đến hơn 1 tháng sau, đầu
năm 1964 mới đeo lon Tr/Tá lên Pleiku nắm quyền
Tư Lệnh Không Đoàn 62, Không Đoàn Biên Trấn và
cũng là Không Đoàn đầu tiên của Không Lực
VNCH.
Vài
tuần sau khi đáo nhiệm chức vụ, Tư Lệnh
Nguyễn Cao Kỳ có một buổi gặp mặt tất
cả các quân nhân trong căn cứ TSN tại câu lạc
bộ hạ sỹ quan Lê Văn Lộc. Ông nói những gí,
nay tôi quên hết, chỉ c̣n nhớ cái câu ông nhấn
mạnh là ông không theo đảng phái nào và cũng không muốn
có đảng phái trong quân đội. Ông c̣n nói đùa
thêm rằng nếu có cái đảng nào để ông theo th́ cái
đảng đó chỉ có thể là đảng Không Quân mà
thôi, và nếu chúng ta đoàn kết th́ có cái đảng nào
mạnh hơn được cái đảng Không Quân này. Anh bạn cùng ngành ngồi
cạnh th́ thấm bên tai tôi: “Có
cái đảng Bộ Binh nó mạnh hơn đảng Không
Quân”. Tôi phản đối: “Đảng
Bộ Binh lớn hơn Đảng Không Quân thực,
nhưng nó thường không đoàn kết, hay chia năm
sẻ bẩy th́ sức mạnh đâu c̣n là bao.”. Đây
là lần thứ nh́ tôi thấy mặt ông, lần này xa cách
hơn, ông trên sân khấu, tôi bên dưới ngồi măi
tận phía đằng xa.
Trong
mấy năm sau, tôi chỉ nghe và biết về ông qua báo
chí, đài phát thanh và sau này, qua đài truyền h́nh khi
những việc ông làm được phổ biến
như dẫn các phi tuần ra oanh kích ngoài Bắc,
được hội đồng tướng lănh dề
cử giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành
Pháp Trung Ương (Thủ Tướng), các chuyến công
du ngoại quốc, vụ dẹp tan phiến loạn
miền Trung, … Khi ông thôi không làm chính trị nữa, đôi
khi tôi thấy ông ra vào Tư Lệnh Bộ KQ thăm Tư
Lệnh Trần Văn Minh. Lần cuối tôi thấy ông
tại VN là vào khoảng 9 giờ sáng ngày 29 tháng 4, 1975 khi ông
vào BTL/KQ họp hành lần chót chi đó với các
tướng lănh Không Quân và Bộ Binh. Ít phút sau khi ông lên
trực thăng ra đi th́ Không Quân cũng chính thức tan
hàng, không kèn không trống.
Tôi
lại có dịp gặp ông mấy tuần sau trên quăng
đường di tản. Khoảng trung tuần tháng 5,
1975, tôi t́nh cờ thấy ông ở
Lại
hơn 10 năm trôi qua, thấm thoát đă sang năm 1986. Tôi
vốn là con người chậm lụt, làm ǵ cũng
đi sau thiên hạ. Cho nên sống ở Hoa Kỳ đă
trên 10 năm, tôi mới dám mon men bước chân ra bên ngoài
tiểu bang. Tất nhiên là đi lần đầu th́
phải đến
Anh
Âu thân mến,
Qua
sự quen biết từ gần 5 năm nay với vài thân
hữu vùng
Như
vậy đó, tất cả những ǵ tôi trực tiếp
biết về tướng Kỳ, những tiếp xúc
của tôi với ông, tôi đă kể ra hết. Tầm
thường quá, vụn vặt quá, nhạt nhẽo quá, có phải vậy không, anh Âu?
Nhưng có sao tôi nói vậy. Và với tôi, chùng ấy cũng
đủ để tôi hiểu con người của ông
như thế nào. Tôi không hề nghe ông kể lại những chuyện xưa thời
ông c̣n “làm lớn” trước 1975, không hề nghe ông
thốt ra những lời chê bai nói xấu bất cứ
một người nào khác, ngay cả những kẻ đă
và đang toa rập nhau kịch liệt chỉ trích ông,
trong số có cả một vài người trước kia
từng được ông ban cho ân huệ. Nhưng thói
đời là vậy!
Tuy
thế, tôi thấy vẫn c̣n có mốt số người
mang tấm ḷng chung thủy, trước sau như nhất.
Như thí dụ trong đoạn văn sau đây:
“C̣n
chuyện ông Kỳ uống rượu, ăn cơm
với những người mà một số người
đă khe khẽ th́ thầm cho là anh chị, th́ không thể
bảo ông Kỳ là trùm anh chị. Phần lớn những
người đó (c̣n lại là bạn bè của những
người đó) là chiến hữu của ông, ngày xưa
là cận vệ cho ông, đem thân ra bảo vệ ông, ngoài
t́nh chiến hữu c̣n nghĩa thầy tṛ, gặp nhau trong
hoàn cảnh tha hương cùng uống một ly
rượu, ăn một miếng cơm với nhau th́ có
ǵ coi không được? Trong hiện cảnh của ông
Kỳ, thất cơ lỡ vận, họ vẫn trọng
t́nh cũ nghĩa xưa, tới lui thăm viếng,
thủy chung như nhất, th́ họ là những
người đáng qúy thật sự. C̣n hơn chán vạn
lần những kẻ ngày xưa ông Kỳ chưa hô đă
dạ, chưa bảo đă vâng, xum xoe nịnh hót
đủ điều, bợ đít đủ kiểu, mà
bây giờ “né” ông, lại c̣n nói xấu nói xiêng ông, th́
quả là coi chẳng đặng.” (Bài “Lại
Bắn”, trang 104-105)
Đoạn
văn trên được trích trong tác phẩm “Chốn lao xao” của cố
Tư Lệnh KQ, Trung Tướng Trần Văn Minh,
xuất bản vào năm 1998. Trung Tướng Trần
Văn Minh được Tướng Kỳ nâng
đỡ, vào năm 1967, đưa lên chức vụ
đứng đầu quân chủng KQ. Trung Tướng Minh
là một con người t́nh nghĩa, ông không hề quên cái
chuyện được tướng Kỳ đề
bạt đó. Vào những năm 1972 trở về sau,
tướng Kỳ không c̣n giữ một chức vụ
chính thức nào ngoài dân sự cũng như trong quân
đội. Ông không c̣n quyền lực, thế lực ǵ
nữa, Vậy mà tướng Minh đối với
tướng Kỳ vẫn một ḷng kính trọng. Tôi c̣n
nhớ rơ trong thời gian này, đă mấy lần tôi
đứng ngoài hành lang trên lầu truớc pḥng làm việc
nh́n sang tiền đ́nh tư lệnh bộ phía bên trái và
thấy tướng Minh tiễn tướng Kỳ ra xe.
Sau khi hai tướng bắt tay nhau, Trung Tướng
Trần Văn Minh đứng nghiêm, thẳng người
chào Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Và
tướng Kỳ, trước khi lên xe, cũng nghiêm ḿnh
chào lại.
Anh
Âu thân mến,
Tuy
có đôi khi, riêng cá nhân tôi không đồng ư về cách hành
xử của cố Tư Lệnh, Trung Tướng
Trần Văn Minh trong thời kỳ gần 9 năm tôi
phục vụ tại Bộ Tư Lệnh KQ, nhưng tôi
phải công nhận ông là một con người chung
thuỷ. V́ vậy, tôi vẫn đem ḷng thầm kính ông
ở cái đức tính hiếm có và đáng qúy này.
Anh
cũng biết tướng Minh nhiều. Chắc hẳn
anh cũng đồng ư.
Thân
ái,
Đỗ
Văn Minh