Nhà thơ TRẦN MẠNH HẢO xin chấm lại Bài Văn Điểm 10

 

Kính gửi nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, chủ trang web www.lethieunhon.com và kính thưa bạn đọc gần xa. Đọc xong bài văn điểm 10 thi vào đại học của học sinh Nguyễn Trung Ngân trên web www.lethieunhon.com, tôi vô cùng buồn cho nền giáo dục Việt Nam, thể hiện rơ nhất trong việc dạy và học môn văn, môn học quan trọng bậc nhất để các con em ta trở thành một người Việt Nam đúng nghĩa. Là người đă từng viết gần 300 bài phê b́nh sách giáo khoa văn trung học và một số giáo tŕnh đại học, đă được Bộ GD &ĐT tiếp thu và cho viết lại sách giáo khoa văn trung học năm 2000, tôi chỉ c̣n biết ngửa mặt kêu trời v́ sự dạy văn nơi nhà trường chúng ta, thông qua bài văn điểm 10 lại tiếp tục tệ hại đến mức này!

 


NHÂN CHUYỆN “BÀI VĂN ĐIỂM 10

TRẦN MẠNH HẢO


Riêng với bài văn điểm 10 của em Nguyễn Trung Ngân có một số lỗi thừa chữ, câu văn trúc trắc, thiếu dấu chấm câu… tôi đă sửa lại trên chính văn bản bài văn bằng những chữ in đậm là thừa chữ phải bỏ, in nghiêng là nhận xét của tôi. Nh́n chung về lỗi viết sai câu cú nơi bài văn của em Ngân c̣n thua xa sự sai sót trong việc viết câu văn tiếng Việt nơi bài khái luận về “Nguyễn Du- Truyện Kiều” của GS Nguyễn Lộc trong sách giáo khoa văn lớp 10 mà tôi từng phê b́nh in trên 10 tờ báo.


Trong một đề văn như 3 đoạn tiểu đề trên luận về 3 khía cạnh của ba tác giả: Nam Cao, Tô Hoài, Hàn Mặc Tử, ta thấy cái gọi là “quan điểm nghệ thuật hiện thực của Nam Cao” phủ nhận sạch trơn “quan điểm nghệ thuật lăng mạn của Hàn Mặc Tử” là cớ làm sao? Xin trích lại cái gọi là “quan điểm nghệ thuật Nam Cao” nơi bài văn điểm 10 như sau: “Chao ôi, nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than !”.


Nếu Nam Cao, nói như bài văn điểm 10 (mà các thầy dạy) dùng quan điểm nghệ thuật như trên làm chân lư, th́ than ôi, đây chỉ là một thứ ngụy chân lư! Thưa nhà văn liệt sĩ Nam Cao, ánh trăng bản thân nó chẳng có lỗi ǵ. Sao ông dám bảo “ánh trăng lừa dối”? Ánh trăng là quà tặng đẹp nhất của tạo hóa ban cho con người. Xin ông và các thầy thử t́m xem trong văn học, thi ca, âm nhạc… những câu đẹp nhất, giai điệu đẹp nhất là những câu, những giai điệu ca ngợi ánh trăng hay sao? Những câu thơ Đường hay nhất, câu Kiều hay nhất đều là những câu viết về ánh trăng đấy. Bản giao hưởng thiên tài “Ánh trăng” của Betthoven đâu có lừa dối ai? Trong ư nghĩa của câu tuyên ngôn nguyền rủa ánh trăng trên, Nam Cao dùng để chôn chủ nghĩa lăng mạn, cực đoan cho là chỉ có chủ nghĩa hiện thực mới là văn học mà thôi. Như vậy cái món “tư tưởng nghệ thuật” của Nam Cao đă giết chết (phủ nhận) chính bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử! Hèn ǵ các thầy (và sách giáo khoa văn trung học?) dám liều mạng bảo bài thơ này là thơ điên!


Xin quư vị xem lại bài văn điểm 10 qua cách “chấm” của chúng tôi (Trần Mạnh Hảo)!


Xin cám ơn nhà thơ Lê Thiếu Nhơn và quư bạn dọc xa gần. Chúng tôi mong được sự hồi âm của các bạn và của các thầy, các giáo sư, để một lần nữa, hi vọng chúng tôi lại hân hạnh được “hầu chuyện các giáo sư !”

 

Kính thư: TMH




BÀI VĂN ĐIỂM 10


Câu 1 (2 điểm): Anh/chị hăy nêu những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám.


Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung. Sở dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như vậy bởi cả cuộc đời cầm bút của ḿnh, ông luôn trăn trở để nâng cao "Đôi Mắt" của ḿnh. Tất cả những ǵ Nam Cao để lại cho cuộc đời chính là rám gương của một người "trí thức trong thực vô ngần" luôn tự đấu tranh để vươn tới những cảnh sống và tâm hồn thật đẹp. Với những nét tiêu biểu như vậy, Nam Cao đă thể hiện qua một hệ thống các quan điểm sáng tác của ḿnh trước cách mạng tháng Tám.


Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám được thể hiện qua "Trăng Sáng" và "Đời Thừa". Trong "Trăng Sáng", nhà văn quan niệm văn chương nghệ thuật phải "vị nhân sinh", nhà văn phải viết cho hay, cho chân thực những ǵ có thật giữa cuộc đời, giữa xă hội mà ḿnh đang sống. Ông viết "Chao ôi! Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than". Đó chính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Trước cách mạng, Nam Cao mang tâm sự u uất, (chỗ này phải dùng dấu chấm phảy ;) đó không chỉ là tâm trạng của một người nghệ sĩ "tài cao, phận thấp, chí khí uất" (Tản Đà) mà đó c̣n là tâm sự của người người trí thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xă hội đen tối bóp nghẹt sự sống. Nhưng Nam Cao không v́ bất măn cá nhân mà ông trở nên khinh bạc. Trái lại ông c̣n có một trái tim chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo lam lũ. Chính v́ lẽ đó mà văn chương của ông luôn cất lên "những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than".


Trong "Đời thừa", một tác phẩm tiêu biểu của văn Nam Cao trước cách mạng, Nam Cao cũng có những quan điểm nghệ thuật (câu này thiếu vị ngữ: những quan điểm nghệ thuật ǵ? Câu văn viết trúc trắc.Có thể rút gọn như sau: “Với quan điểm nghệ thuật đầy tính nhân đạo, “Đời thừa” được coi là tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao”). Khi mà ta đă chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp của ḿnh th́ ta phải dồn hết tâm huyết cho nó, có như thế mới làm nghệ thuật tốt được. "Đói rét không có nghĩa lư ǵ đối với gă tuổi trẻ say mê lư tưởng. Ḷng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài băo lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, suy ngẫm, t́m ṭi, nhận xét, suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có ǵ đáng quan tâm nữa...". Nam Cao c̣n quan niệm người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng và sâu sắc: "sự cẩu thả trong bất cứ nghề ǵ cũng là sự bất lương rồi, c̣n sự cẩu thả trong văn chương th́ thật là đê tiện". Với Nam Cao, bản chất của văn chương đồng nghĩa với sự sáng tạo "văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết t́m ṭi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những ǵ chưa có". Quan điểm của Nam Cao là một tác phẩm văn chương đích thực phải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc: Nó phải chứa đựng một cái ǵ đó vừa lớn lao vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn khởi: "Nó ca ngợi t́nh thương, ḷng bác ái, sự công b́nh, nó làm người gần người hơn".


Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu được thể hiện trước cách mạng tháng Tám. Với quan điểm sáng tác thể hiện trong hai truyện "Trăng Sáng" và "Đời Thừa" giúp ta hiểu sâu hơn về Nam Cao. Qua đó, ta thấy được những đóng góp về nghệ thuật cũng như tư tưởng của Nam Cao cho văn học Việt Nam. Từ đấy giúp ta hiểu v́ sao Nam Cao - một nhà văn chưa tṛn bốn mươi tuổi lại để lại cho cuộc đời một sự nghiệp văn chương vĩ đại đến như vậy. (“Sự nghiệp văn chương vĩ đại” chỉ có thể dành cho Nguyễn Du, Nguyễn Trăi, Hồ Xuân Hương. Cho Nam Cao là nhà văn vĩ đại như bài văn này là thậm xưng, quá đáng. Có thể dùng từ “lớn” dành cho sự nghiệp của Nam Cao)


Câu 2 (5 điểm): Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).


Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đă giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng (Dùng từ ngữ không chuẩn: “giành nhiều tài năng”. Có thể viết lại câu văn này cho thuận tai như sau: “Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Vợ chồng A phủ” mà nhà văn Tô Hoài đă xây dựng nên bằng tài năng và tâm huyết”). Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tân Bắc (1952), Tô Hoài đă có dịp sống sâu, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, (Chỗ này phải đánh dấu chấm thay cho dấu phảy) chính điều đó đă giúp Tô Hoài t́m được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, t́nh cảm sống của ḿnh mà c̣n do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đă sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ư nhất là biện pháp phân tích tâm ư và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lư và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.


Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là h́nh ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc ǵ, cô ta cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi". Đó là nét tâm lư của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người ḿnh yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà ḿnh sợ hăi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lư Pá Tra đă biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ṛng ră mấy tháng trời và từng có ư định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời ḿnh. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính v́ thế Mị đă buông xuôi trước số phận đen tối của ḿnh, (Chỗ này phải đánh dấu chấm thay cho dấu phảy) trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.


Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đă được thể hiện trong đêm mùa xuân.


Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc t́nh cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa... Mị ư thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đă trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được tâm hồn của một cô gái đang ḥa nhập với mùa xuân, với cuộc đời (Sợi dây trói kia chỉ có thể trói được thân xác Mị, làm sao trói được tâm hồn Mị? Viết như bài văn này là chưa hiểu giá trị của thiên truyện). Đêm ấy thật là một đêm có ư nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho tiêng ḿnh sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim ḿnh.


Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong ḷng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy th́ đốm lửa ấy (thay “ấy” bằng “kia” mới thuận tai) sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của ḿnh. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.


Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tân Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, v́ thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay "dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lại lănh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm b́nh thường ở nhà thống lư Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lănh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đă ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một ḍng nước mắt lấp lánh ḅ xuống hai hơm má đă xám đen lại". Đó là ḍng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính "ḍng nước mắt lấp lánh ấy" đă làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong ḷng Mị. Ḷng Mị chợt bồi hồi trước một người, rừng (“cùng” viết thành “rừng”, trong bài nhiều lỗi chính tả quá, chắc là do người đánh máy vi tính?) cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống ḿnh về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết c̣n các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ v́ bị hổ ăn mất một con ḅ mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đă phải lấy mạng ḿnh thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay dắng cho thân phận của ḿnh: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về tŕnh ma nhà nó rồi th́ chỉ c̣n biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về ḿnh, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc ǵ mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do ǵ mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết v́ cái tội để mất một con ḅ! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đă biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với t́nh yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, (Chỗ này phải thay dấu chấm vào dấu phảy) chúng đă tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết th́ chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “ḍng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, (Thay dấu chấm vào dấu phảy) Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lănh chúa phong kiến thật độc ác, (thay dấu chấm vào dấu phảy) Mị xót xa trước số phận của ḿnh rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh ḿnh bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này. Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ ḿnh dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị th́ thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi c̣n Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể h́nh dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Ḷng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đă thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lănh chúa phong kiến đương thời đă đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây th́ chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao t́nh cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân - hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô h́nh ràng buộc cuộc đời của ḿnh. Thế là Mị và A Phủ d́u nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đă rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, c̣n nỗi buồn đau, tủi nhục th́ chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…


Rơ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai tṛ hết sức quan trọng (Câu văn này thiếu chủ ngữ: sức sống tiềm tàng của ai?). Chính nó đă giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của ḿnh. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân ḿnh. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đă ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đă rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đă phát hiện và ngợi ca đốm lửa c̣n sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đă khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công th́ ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.


Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu v́ sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ t́nh thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo h́nh đă hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn - giải thương do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong ḷng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.


Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xă hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đă góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đă quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”.


Phần riêng (3 điểm): Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:

Gió theo lối gió mây đường mây

Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?


Cảm nhận thơ trữ t́nh xét cho cùng là cảm nhận "cái t́nh" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ t́nh trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lăng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên (“tiên” viết nhầm thành “trên”) cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường t́nh cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu" (Ḥa Thanh - Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó. Chính "chất điên" ấy đă làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử (“chất điên” là phong cách nghệ thuật …của Hàn Mặc Tử? Qúa bậy!). "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đă hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Chất điên cuồng ấy thể hiên cụ thể và rơ nét trong khổ thơ:


"Gió theo lối gió mây đường mây

Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?"

(Khổ thơ trên chẳng có chút “điên cuồng” nào? Sao các thầy (hay sách giáo khoa?) lại dạy dỗ con em chúng ta bậy bạ như thế này?)


Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:


“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nh́n nắng hàng cây nắng mới lên (sửa thơ Hàn: “cau” thành “cây”)

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”


Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm ḿnh dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là h́nh ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” c̣n rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho ḷng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang” (Sao lại có người đẹp “mặt vuông” = mặt chữ điền thế này, các thầy dạy thế th́ bằng giết chết thơ Hàn mất!). Câu thơ đẹp v́ sự hài ḥa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ t́nh ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạ vào cơi tiên, cơi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.


Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ t́nh cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận (Làm ǵ có uất hận trong câu thơ này! Xin lạy các thầy soạn sách giáo khoa, các thầy hiểu sai hoàn toàn bài thơ Hàn nên học tṛ mới làm luận văn như thế này!). Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của ḿnh và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vé đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là h́nh ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi th́ mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ t́nh vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đă trở về với thôn Vĩ nhưng ḷng lại buồn chắc có lẽ bởi mối t́nh đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ t́nh lại bị nhà thơ miêu tả vô t́nh, xa lạ đến như vậy (Nói “nhà thơ miêu tả vô t́nh” là giết chết bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ rồi thưa các thầy đă dạy cho các em ta cảm thơ như thế này!). Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui ǵ hơn khi “Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay”.


Ḍng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đă bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng ḷng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nỗi. Ḷng sông buồn, băi bờ của nó c̣n sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ t́nh lại thay đổi:


“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”


Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đă trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào (“Sào” chứ không phải “xào”) đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ t́nh, lăng mạn. H́nh ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài ḥa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi từ từ vang lên như một nỗi ḷng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong ḷng thi nhân. Như thế mới biết nỗi ḷng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. T́nh cảm ấy quả thật là t́nh cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ).


Đến đây ta hiểu thêm về ḷng “buồn thiu” của nhân vật trữ t́nh trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngoáng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:


“Mơ khách đường xa khách dường xa

Áo em trắng quá nh́n không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết t́nh ai có đậm đà?”

(Kiếm đâu ra “chất điên” trong khổ thơ này thế? Nếu sách giáo khoa dạy các em ta như thế này th́ các thầy soạn sách quá dốt nát!)


Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” - người thôn Vĩ đến với ḿnh, tâm trạng nhân vật trữ t́nh lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết t́nh ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có c̣n nặng t́nh với ḿnh không? Và chẳng biết chính ḿnh c̣n mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong t́nh yêu chính là sự hoài nghi, không tin tương về nhau. Nhân vật trữ t́nh rơi vào t́nh trạng ấy và đă bộc bạch ḷng ḿnh để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lăng mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó.


Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió -…. kịp tối nay” để lại trong ḷng người đọc những t́nh cảm đẹp. Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giă từ cuộc đời. Lời thơ v́ thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đă nói hộ họ những t́nh cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của ḿnh trong thời đại cái “tôi”, cái băn ngă đang tự đấu tranh để khẳng định. T́nh cảm trong thơ Hàn Mặc tử là t́nh cảm thực do đó nó sẽ ở măi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng B́nh đây nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.

 

www.lethieunhon.com, 12/08/2008