Nhà thơ TRẦN MẠNH HẢO xin chấm
lại Bài Văn Điểm 10
Kính gửi nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, chủ trang
web www.lethieunhon.com và kính thưa bạn đọc
gần xa. Đọc xong bài văn điểm 10 thi vào
đại học của học sinh Nguyễn Trung Ngân trên
web www.lethieunhon.com, tôi vô cùng buồn cho nền giáo
dục Việt Nam, thể hiện rơ nhất trong việc
dạy và học môn văn, môn học quan trọng bậc
nhất để các con em ta trở thành một
người Việt Nam đúng nghĩa. Là người
đă từng viết gần 300 bài phê b́nh sách giáo khoa
văn trung học và một số giáo tŕnh đại
học, đă được Bộ GD &ĐT tiếp thu
và cho viết lại sách giáo khoa văn trung học năm
2000, tôi chỉ c̣n biết ngửa mặt kêu trời v́
sự dạy văn nơi nhà trường chúng ta, thông qua
bài văn điểm 10 lại tiếp tục tệ
hại đến mức này!
TRẦN MẠNH HẢO
Riêng với bài
văn điểm 10 của em Nguyễn Trung Ngân có một
số lỗi thừa chữ, câu văn trúc trắc,
thiếu dấu chấm câu… tôi đă sửa lại trên
chính văn bản bài văn bằng những chữ in
đậm là thừa chữ phải bỏ, in nghiêng là
nhận xét của tôi. Nh́n chung về lỗi viết sai câu
cú nơi bài văn của em Ngân c̣n thua xa sự sai sót trong
việc viết câu văn tiếng Việt nơi bài khái
luận về “Nguyễn Du- Truyện Kiều” của GS
Nguyễn Lộc trong sách giáo khoa văn lớp 10 mà tôi
từng phê b́nh in trên 10 tờ báo.
Trong một đề văn như 3 đoạn tiểu
đề trên luận về 3 khía cạnh của ba tác
giả: Nam Cao, Tô Hoài, Hàn Mặc Tử, ta thấy cái
gọi là “quan điểm nghệ thuật hiện thực
của Nam Cao” phủ nhận sạch trơn “quan
điểm nghệ thuật lăng mạn của Hàn Mặc
Tử” là cớ làm sao? Xin trích lại cái gọi là “quan
điểm nghệ thuật Nam Cao” nơi bài văn
điểm 10 như sau: “Chao ôi, nghệ thuật không là ánh trăng
lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là
tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp
người lầm than !”.
Nếu Nam Cao, nói như bài văn điểm 10 (mà các
thầy dạy) dùng quan điểm nghệ thuật như
trên làm chân lư, th́ than ôi, đây chỉ là một thứ
ngụy chân lư! Thưa nhà văn liệt sĩ Nam Cao, ánh
trăng bản thân nó chẳng có lỗi ǵ. Sao ông dám bảo
“ánh trăng lừa dối”? Ánh trăng là quà tặng
đẹp nhất của tạo hóa ban cho con người.
Xin ông và các thầy thử t́m xem trong văn học, thi ca,
âm nhạc… những câu đẹp nhất, giai điệu
đẹp nhất là những câu, những giai điệu
ca ngợi ánh trăng hay sao? Những câu thơ
Đường hay nhất, câu Kiều hay nhất
đều là những câu viết về ánh trăng
đấy. Bản giao hưởng thiên tài “Ánh trăng”
của Betthoven đâu có lừa dối ai? Trong ư nghĩa
của câu tuyên ngôn nguyền rủa ánh trăng trên, Nam Cao
dùng để chôn chủ nghĩa lăng mạn, cực
đoan cho là chỉ có chủ nghĩa hiện thực
mới là văn học mà thôi. Như vậy cái món “tư
tưởng nghệ thuật” của Nam Cao đă giết
chết (phủ nhận) chính bài thơ “Đây thôn Vĩ
Dạ” của Hàn Mặc Tử! Hèn ǵ các thầy (và sách giáo
khoa văn trung học?) dám liều mạng bảo bài
thơ này là thơ điên!
Xin quư vị xem lại bài
văn điểm 10 qua cách “chấm” của chúng tôi
(Trần Mạnh Hảo)!
Xin cám ơn nhà thơ Lê
Thiếu Nhơn và quư bạn dọc xa gần. Chúng tôi mong
được sự hồi âm của các bạn và của
các thầy, các giáo sư, để một lần nữa,
hi vọng chúng tôi lại hân hạnh được
“hầu chuyện các giáo sư !”
Kính thư: TMH
BÀI VĂN ĐIỂM 10
Câu 1 (2 điểm): Anh/chị hăy nêu những nét chính
trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước
Cách mạng tháng Tám.
Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn
học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn
lớn của văn học Việt Nam nói chung. Sở
dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như
vậy bởi cả cuộc đời cầm bút của
ḿnh, ông luôn trăn trở để nâng cao "Đôi
Mắt" của ḿnh. Tất cả những ǵ Nam Cao
để lại cho cuộc đời chính là rám
gương của một người "trí thức trong
thực vô ngần" luôn tự đấu tranh để
vươn tới những cảnh sống và tâm
hồn thật đẹp. Với những nét tiêu biểu
như vậy, Nam Cao đă thể hiện qua một hệ
thống các quan điểm sáng tác của ḿnh trước
cách mạng tháng Tám.
Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước
cách mạng tháng Tám được thể hiện qua
"Trăng Sáng" và "Đời Thừa". Trong
"Trăng Sáng", nhà văn quan niệm văn
chương nghệ thuật phải "vị nhân sinh",
nhà văn phải viết cho hay, cho chân thực những ǵ
có thật giữa cuộc đời, giữa xă hội mà
ḿnh đang sống. Ông viết "Chao ôi! Nghệ thuật
không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng
lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là
tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp
người lầm than". Đó chính là quan điểm
nghệ thuật của Nam Cao. Trước cách mạng, Nam
Cao mang tâm sự u uất, (chỗ này phải dùng dấu
chấm phảy ;) đó không chỉ là tâm trạng
của một người nghệ sĩ "tài cao,
phận thấp, chí khí uất" (Tản Đà) mà đó
c̣n là tâm sự của người người trí
thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xă hội
đen tối bóp nghẹt sự sống. Nhưng Nam Cao
không v́ bất măn cá nhân mà ông trở nên khinh
bạc. Trái lại ông c̣n có một trái tim chan chứa yêu
thương đối với người dân nghèo lam
lũ. Chính v́ lẽ đó mà văn chương của ông
luôn cất lên "những tiếng đau khổ kia thoát
ra từ những kiếp lầm than".
Trong "Đời thừa", một tác
phẩm tiêu biểu của văn Nam Cao trước cách
mạng, Nam Cao cũng có những quan điểm nghệ
thuật (câu này thiếu vị ngữ: những quan
điểm nghệ thuật ǵ? Câu văn viết trúc
trắc.Có thể rút gọn như sau: “Với quan
điểm nghệ thuật đầy tính nhân đạo,
“Đời thừa” được coi là tác phẩm tiêu
biểu của Nam Cao”). Khi mà ta đă
chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp
của ḿnh th́ ta phải dồn hết tâm huyết cho nó, có
như thế mới làm nghệ thuật tốt
được. "Đói rét không có nghĩa lư ǵ
đối với gă tuổi trẻ say mê lư tưởng.
Ḷng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài băo
lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn
về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái
tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn
đọc, suy ngẫm, t́m ṭi, nhận xét, suy tưởng
không biết chán. Đối với hắn lúc ấy
nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không
có ǵ đáng quan tâm nữa...". Nam Cao c̣n quan niệm
người cầm bút phải có lương tâm và trách
nhiệm đối với bạn đọc, phải
viết thận trọng và sâu sắc: "sự cẩu
thả trong bất cứ nghề ǵ cũng là sự
bất lương rồi, c̣n sự cẩu thả trong
văn chương th́ thật là đê tiện". Với
Nam Cao, bản chất của văn chương là đồng
nghĩa với sự sáng tạo "văn chương
không cần đến những người thợ khéo tay
làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn
chương chỉ dung nạp những người
biết đào sâu, biết t́m ṭi khơi những nguồn
chưa ai khơi và sáng tạo những ǵ chưa có".
Quan điểm của Nam Cao là một tác phẩm văn
chương đích thực phải góp phần nhân
đạo hóa tâm hồn bạn đọc: Nó phải
chứa đựng một cái ǵ đó vừa lớn lao
vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn
khởi: "Nó ca ngợi t́nh thương, ḷng bác ái, sự
công b́nh, nó làm người gần người hơn".
Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu
được thể hiện trước cách mạng
tháng Tám. Với quan điểm sáng tác thể hiện trong
hai truyện "Trăng Sáng" và "Đời
Thừa" giúp ta hiểu sâu hơn về Nam Cao. Qua đó,
ta thấy được những đóng góp về
nghệ thuật cũng như tư tưởng của
Nam Cao cho văn học Việt Nam. Từ đấy giúp ta
hiểu v́ sao Nam Cao - một nhà văn chưa tṛn bốn
mươi tuổi lại để lại cho cuộc
đời một sự nghiệp văn chương
vĩ đại đến như vậy. (“Sự
nghiệp văn chương vĩ đại” chỉ có
thể dành cho Nguyễn Du, Nguyễn Trăi, Hồ Xuân
Hương. Cho Nam Cao là nhà văn vĩ đại như
bài văn này là thậm xưng, quá đáng. Có thể dùng
từ “lớn” dành cho sự nghiệp của Nam Cao)
Câu 2 (5 điểm): Phân tích tâm trạng và hành
động của nhân vật Mị trong đêm cứu A
Phủ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).
Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn
"Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đă giành
nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng (Dùng
từ ngữ không chuẩn: “giành nhiều tài năng”. Có
thể viết lại câu văn này cho thuận tai như
sau: “Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn
“Vợ chồng A phủ” mà nhà văn Tô Hoài đă xây
dựng nên bằng tài năng và tâm huyết”). Truyện
được trích từ tập "truyện Tây
Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng
bộ đội vào giải phóng miền Tân Bắc (1952),
Tô Hoài đă có dịp sống sâu, cùng ăn, cùng ở
với đồng bào các dân tộc miền núi, (Chỗ
này phải đánh dấu chấm thay cho dấu phảy)
chính điều đó đă giúp Tô Hoài t́m được
cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành
công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do
vốn sống, t́nh cảm sống của ḿnh mà c̣n là
do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa.
Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đă sử
dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó
nổi bật và đáng chú ư nhất là biện pháp phân tích
tâm ư và hành động của Mị trong từng chặng đường
đời. Điểm nghệ thuật ấy thật
sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu
tả tâm lư và hành động của nhân vật Mị trong
đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy
được giá trị hiện thực và nhân đạo
của tác phẩm.
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc
ấn tượng nhất đó chính là h́nh ảnh của
cô gái "dù làm bất cứ việc ǵ, cô ta cũng cúi
mặt, mặt buồn rười rượi". Đó
là nét tâm lư của một con người cam chịu, buông
xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen
tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính
cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức
giữa Mị và A Sử. Mị không được
lấy người ḿnh yêu mà phải ăn đời
ở kiếp với một người mà ḿnh sợ hăi,
lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền,
thần quyền, đồng tiền của nhà thống lư
Pá Tra đă biến Mị thành một đứa con dâu gạt
nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu
có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là
một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều
đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ṛng ră mấy tháng
trời và từng có ư định ăn nắm lá ngón
kết thúc cuộc đời ḿnh. Thế nhưng "sống
lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính v́
thế Mị đă buông xuôi trước số phận
đen tối của ḿnh, (Chỗ này phải đánh
dấu chấm thay cho dấu phảy) trái tim của
Mị dần chai sạn và mất đi nhịp
đập tự nhiên của nó.
Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng
của một người yêu đời, yêu cuộc
sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống
đen tối, đầy bi kịch. Điều đó
đă được thể hiện trong đêm mùa xuân.
Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát
triển theo những cung bậc t́nh cảm khác nhau, cung
bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu,
Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm
thầm bài hát người đang thổi rồi Mị
uống rượu và nhớ lại kỷ niệm
đẹp thời xa xưa... Mị ư thức
được về bản thân và về cuộc
đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi
dây thô bạo của A Sử đă trói đứng Mị
vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có
thể "trói" được tâm hồn của
một cô gái đang ḥa nhập với mùa xuân, với cuộc
đời (Sợi dây trói kia chỉ có thể trói
được thân xác Mị, làm sao trói được tâm
hồn Mị? Viết như bài văn này là chưa
hiểu giá trị của thiên truyện). Đêm ấy
thật là một đêm có ư nghĩa với Mị. Đó là
đêm cô thực sự sống cho tiêng ḿnh sau hàng ngàn
đêm cô sống vật vờ như một cái xác không
hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền
và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái
tim ḿnh.
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục
sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng
viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng
định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu
như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức
sống tiềm tàng trong ḷng Mị. Và chỉ cần có
một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi
lớp tro buồn nguội lạnh ấy th́ đốm
lửa ấy (thay “ấy” bằng “kia” mới thuận
tai) sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc
sống đen tối của ḿnh. Giá trị nhân đạo
của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.
Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó
chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi
rừng Tân Bắc đang về. Mùa đông rét buốt
như cắt da cắt thịt, v́ thế đêm nào Mị
cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa
hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ
đang bị trói đứng chờ chết giữa
trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên
thổi lửa hơ tay "dù A Phủ là cái xác chết
đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị
lại lănh cảm, thờ ơ trước sự việc
ấy? Phải chăng việc trói người đến
chết là một việc làm b́nh thường ở nhà
thống lư Pá Tra và ai cũng quen với điều đó
nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị
"sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ
rồi" nên Mị lănh đạm, thờ ơ
trước nỗi đau khổ của người khác.
Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi
người trong nhà đă ngủ yên cả rồi, Mị
lại thức dậy đến bếp đốt
lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé
mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa
mở, một ḍng nước mắt lấp lánh ḅ
xuống hai hơm má đă xám đen lại". Đó là ḍng
nước mắt của một kẻ nô lệ khi
phải đối mặt với cái chết đến
rất gần. Chính "ḍng nước mắt lấp lánh
ấy" đă làm tan chảy lớp băng giá lạnh
trong ḷng Mị. Ḷng Mị chợt bồi hồi
trước một người, rừng (“cùng” viết
thành “rừng”, trong bài nhiều lỗi chính tả quá,
chắc là do người đánh máy vi tính?) cảnh
ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A
Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc
nước mắt rơi xuống miệng, xuống
cổ không biết lau đi được. Mị chợt
nhận ra người ấy giống ḿnh về cảnh
ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất
dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những
chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia,
“chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà
ngày trước cũng ở trong cái nhà này”. Lí trí giúp
Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói
người đến chết c̣n các hơn cả thú
dữ trong rừng. Chỉ v́ bị hổ ăn mất
một con ḅ mà một người thanh niên khỏe
mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời
đă phải lấy mạng ḿnh thay cho nó. Bọn thống
trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một
con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ
cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ
đến những chuyện ngày trước, trở
về với hiện tại, Mị đau khổ cay
dắng cho thân phận của ḿnh: “Ta là thân đàn bà chúng nó
đẵ bắt ta về tŕnh ma nhà nó rồi th́ chỉ c̣n
biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”.
Nghĩ về ḿnh, Mị lại nghĩ đến A
Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người
kia chết, chết đau, chết đói, chết rét,
phải chết. Người kia việc ǵ mà phải
chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất
nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do ǵ mà
bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết v́
cái tội để mất một con ḅ! Trong đầu
Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ
bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết
thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng
đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ,
sự suy tưởng của Mị là có cơ sở
của nó. Cha con Pá Tra đă biến Mị từ một con
người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa
chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với t́nh yêu
thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ
đúng nghĩa, (Chỗ này phải thay dấu chấm
vào dấu phảy) chúng đă tàn ác khi trói một
người đàn bà ngày trước đến chết
th́ chẳng lẽ chúng lại không đối xử
với Mị như thế ư? Như vậy, chứng
kiến “ḍng nước mắt lấp lánh” của A
Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức
tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh
ngộ, (Thay dấu chấm vào dấu phảy) Mị
nhớ đến chuyện người đàn bà ngày
trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lănh chúa phong kiến
thật độc ác, (thay dấu chấm vào dấu
phảy) Mị xót xa trước số
phận của ḿnh rồi Mị lại nghĩ đến
A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng
đến cái cảnh ḿnh bị trói đứng… Một
loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến
với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi
trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và
hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét
tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này. Sau khi cắt
dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ ḿnh dám
làm một chuyện động trời đến vậy.
Mị th́ thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị
nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi c̣n Mị
vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể h́nh
dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối
của Mị lúc này. Ḷng Mị rối bời với
trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở
đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức
sống tiềm tàng đă thôi thúc Mị phải sống và
Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm
nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của
Mị như đạp đổ uy quyền, thần
quyền của bọn lănh chúa phong kiến đương
thời đă đè nặng tâm hồn Mị suốt bao
nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói
lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu
năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây th́
chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát
khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa
đựng biết bao t́nh cảm và làm quặn đau trái
tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân - hệ quả
của việc Mị cắt đứt sợi dây vô h́nh
ràng buộc cuộc đời của ḿnh. Thế là Mị
và A Phủ d́u nhau chạy xuống dốc núi. Hai người
đă rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những
kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít,
c̣n nỗi buồn đau, tủi nhục th́ chồng
chất không sao kể xiết. Hai người rời
bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa,
nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng
chưa biết đến…
Rơ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng
đóng một vai tṛ hết sức quan trọng (Câu
văn này thiếu chủ ngữ: sức sống tiềm
tàng của ai?). Chính nó đă giúp Mị vượt lên
trên số phận đen tối của ḿnh. Mị cứu
A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị
tự cứu lấy bản thân ḿnh. Qua đoạn trích
trên, Tô Hoài đă ca ngợi những phẩm chất
đẹp đẽ của người phụ nữ
miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt
Nam nói chung. Tô Hoài đă rất cảm thông và xót
thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát
của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim
nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đă
phát hiện và ngợi ca đốm lửa c̣n sót lại
trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của
nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác
phẩm, Tô Hoài cũng đă khẳng định
được chân lí muôn đời: ở đâu có áp
bức bất công th́ ở đó có sự đấu tranh
để chống lại nó dù đó là sự vùng lên
một cách tự phát như Mị. Quả thật qua
đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều
trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng
và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu v́ sao Tô
Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn
đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu
sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất
trữ t́nh thấm đượm, ngôn ngữ lời
văn giàu tính tạo h́nh đă hội tụ và phát sáng trong
truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc”
xứng đáng với giải nhất truyện ngắn -
giải thương do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao
tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ chồng A Phủ”
thực sự để lại ấn tượng tốt
đẹp trong ḷng bạn đọc bởi những giá
trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá
trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này
quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách
Tô Hoài.
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A
Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi
khổ của người phụ nữ trong xă hội
phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân
trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là
một tác phẩm văn chương đích thực
bởi nó đă góp phần nhân đạo hóa tâm hồn
bạn đọc như Nam Cao đă quan niệm trong
truyện ngắn “Đời thừa”.
Phần riêng (3 điểm): Cảm nhận về
đoạn thơ sau trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ”
của Hàn Mặc Tử:
Gió theo
lối gió mây đường mây
Ḍng
nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền
ai đậu bến sông trăng đó
Có chở
trăng về kịp tối nay?
Cảm nhận thơ trữ t́nh xét cho cùng là cảm
nhận "cái t́nh" trong thơ và tâm trạng của
nhân vật trữ t́nh trước thiên nhiên, vũ trụ,
đất trời. Đến với thơ ca lăng mạn
Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên (“tiên”
viết nhầm thành “trên”) cùng Thế Lữ, ta phiêu
lưu trong trường t́nh cùng Lưu Trọng Lư, ta
điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta
đắm say cùng Xuân Diệu" (Ḥa Thanh - Thi nhân Việt
Nam). Đúng thế, bạn đọc đương
thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi
chất "điên cuồng" của nó. Chính
"chất điên" ấy đă làm nên phong cách nghệ
thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ
của Hàn Mặc Tử (“chất điên” là phong cách
nghệ thuật …của Hàn Mặc Tử? Qúa bậy!).
"Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay
đổi của tâm trạng khó lường trước
được. Nét phong cách đặc sắc ấy đă
hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn
Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng
rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ
Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn
Mặc Tử. Chất điên cuồng ấy thể hiên
cụ thể và rơ nét trong khổ thơ:
"Gió theo lối gió mây đường mây
Ḍng nước
buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai
đậu bến sông trăng đó
Có chở
trăng về kịp tối nay?"
(Khổ
thơ trên chẳng có chút “điên cuồng” nào? Sao các
thầy (hay sách giáo khoa?) lại dạy dỗ con em chúng ta
bậy bạ như thế này?)
Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt
vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử
trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng
tưởng:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nh́n nắng hàng
cây nắng mới lên (sửa thơ Hàn: “cau” thành “cây”)
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang
mặt chữ điền”
Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề
sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với
những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật
nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau
thẳng tắp đang tắm ḿnh dưới ánh “nắng
mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là h́nh ảnh
“nắng hàng cau nắng mới lên” c̣n rất gần
lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”.
“Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức
sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho ḷng người
như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ
khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền
ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp
của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn
“mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa
quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa
thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang” (Sao lại
có người đẹp “mặt vuông” = mặt chữ
điền thế này, các thầy dạy thế th́
bằng giết chết thơ Hàn mất!). Câu thơ
đẹp v́ sự hài ḥa giữa cảnh vật và con
người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ
đẹp của con người. Như vậy tâm
trạng của nhân vật trữ t́nh ở đoạn
thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạ vào
cơi tiên, cơi mộng khi được trở về với
cảnh và người thôn Vĩ.
Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ
nhưng thời gian có sự biến đổi từ
“nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân
vật trữ t́nh cũng có sự biến đổi
lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió
theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li,
uất hận (Làm ǵ có uất hận trong câu thơ này!
Xin lạy các thầy soạn sách giáo khoa, các thầy
hiểu sai hoàn toàn bài thơ Hàn nên học tṛ mới làm
luận văn như thế này!). Biện pháp nhân hóa cho
chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo
không gian riêng của ḿnh và mây cũng thế. Câu thơ tách
thành hai vé đối nhau; mở đầu vế thứ
nhất là h́nh ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở
đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là
“mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những
kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây
thực sự là một điều nghịch lí bởi
lẽ có gió thổi th́ mây mới bay theo, thế mà lại
nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế
nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi
lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ
t́nh vốn rất vui sướng khi về với thôn
Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay
đổi đột biến và trở nên buồn như
vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đă
trở về với thôn Vĩ nhưng ḷng lại buồn
chắc có lẽ bởi mối t́nh đơn phương
và những kỉ niệm đẹp với cảnh và
người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm
trạng ấy. Quả thật “Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ
Huế vốn thơ mộng, trữ t́nh lại bị nhà
thơ miêu tả vô t́nh, xa lạ đến như vậy (Nói
“nhà thơ miêu tả vô t́nh” là giết chết bài thơ
“Đây thôn Vĩ Dạ rồi thưa các thầy đă
dạy cho các em ta cảm thơ như thế này!).
Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng
vui ǵ hơn khi “Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay”.
Ḍng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng
đă bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà
bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm
thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay
chính là con sóng ḷng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng
lên không sao giấu nỗi. Ḷng sông buồn, băi bờ
của nó c̣n sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả
những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất
khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn
đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống,
trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ t́nh
lại thay đổi:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở
trăng về kịp tối nay”
Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh
trăng đă trở thành “sông trăng” thơ mộng.
Cắm xào (“Sào” chứ không phải “xào”) đậu
bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là
bức tranh càng trữ t́nh, lăng mạn. H́nh ảnh
“thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài ḥa biết bao.
Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm
“Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu
“thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi
bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi từ
từ vang lên như một nỗi ḷng khắc khoải,
chờ đợi, ngóng trông được gặp
gương mặt sáng như “trăng’ của người
thôn Vĩ trong ḷng thi nhân. Như thế mới biết
nỗi ḷng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế
tha thiết biết nhường nào. T́nh cảm ấy
quả thật là t́nh cảm của “Cái thưở ban
đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ
mấy ai quên” (Thế Lữ).
Đến đây ta hiểu thêm về ḷng “buồn thiu”
của nhân vật trữ t́nh trong buổi chiều. Như
vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức
phức tạp, khó lường trước
được. Chất “điên” của một tâm
trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông
ngoáng, chờ đợi vẫn được thể
hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:
“Mơ khách đường xa khách dường xa
Áo em trắng quá
nh́n không ra
Ở đây
sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết t́nh ai
có đậm đà?”
(Kiếm
đâu ra “chất điên” trong khổ thơ này thế? Nếu
sách giáo khoa dạy các em ta như thế này th́ các thầy
soạn sách quá dốt nát!)
Vẫn là một tâm trạng vui sướng
được đón “khách đường xa” -
người thôn Vĩ đến với ḿnh, tâm trạng
nhân vật trữ t́nh lại khép lại trong một
nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết t́nh ai có
đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ
người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả.
Chẳng biết người thôn Vĩ có c̣n nặng t́nh
với ḿnh không? Và chẳng biết chính ḿnh c̣n mặn mà
với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn
trong t́nh yêu chính là sự hoài nghi, không tin tương về
nhau. Nhân vật trữ t́nh rơi vào t́nh trạng ấy và
đă bộc bạch ḷng ḿnh để mọi người
hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lăng
mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó.
Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn
Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió
-…. kịp tối nay” để lại trong ḷng
người đọc những t́nh cảm đẹp.
Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của
một nhà thơ sắp phải giă từ cuộc
đời. Lời thơ v́ thế trầm buồn, sâu
lắng, đầy suy tư. Bạn đọc
đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử
bởi thi nhân đă nói hộ họ những t́nh cảm sâu
lắng nhất, thầm kín nhất của ḿnh trong
thời đại cái “tôi”, cái băn ngă đang tự
đấu tranh để khẳng định. T́nh cảm
trong thơ Hàn Mặc tử là t́nh cảm thực do đó
nó sẽ ở măi trong trái tim bạn đọc. Ấn
tượng về một nhà thơ của đất
Quảng B́nh đây nắng và gió sẽ không bao giờ phai
nhạt trong tâm trí người Việt Nam.
www.lethieunhon.com, 12/08/2008