Vĩnh Phúc | 7.11.2008
Mùa thu.
Thành phố ban mai vẫn cuộn
chảy nhịp điệu nhân sinh hối hả, những cái mặt nhăn
nhíu tính toan, xe
tàu bụi khói và trăm
tiếng ồn ã của thỏa hiệp bán mua. Tôi, khách phương
xa, giữa ngày bụi tro tìm thăm
Trần Mạnh Hảo, khuôn viên nhà nằm
trong một con hẻm Phú Nhuận.
Khung cửa to, khép lại, trần gian đa đoan
bỏ lại sau lưng, chỉ còn chín
phương gió lia khia, mười
phương mây bay, bạn và thơ.
Nguyên quán
Trời không đủ
cho ta manh
chiếu rách
Thơ gặt rồi ta xác
lại thành rơm(1)
Vâng, Đại Đường không
lớn hơn nắm cơm, trần gian mở ra không
đủ manh chiếu rách vì những mưu toan tranh
chấp xé giằng, vì những cơn đói làm ta
say. Thơ, cuối
cùng còn lại rạ rơm, những cây rơm gom
thành bão trên đất nầy than khóc .
Bút ta rét
sao câu thơ
bốc khói
Suốt một đời ta tỉnh để trời điên(1)
Mặt ửng sắc lá thu,
hai tay nắm
lại thành đấm, T.M.H ngửa mặt trời mây vang vọng
tiếng lòng Đỗ Phủ :
Thịnh Đường, thịnh Đường
Ta đã
thấy làm vua dễ hơn
làm người
Thấy ngụy mặt trời
Thấy chân lý
ve chai
Ôi chữ thánh hiền bò như cua
cáy
Kẻ sĩ nhìn
lên bằng mắt chuột chù (1)
Tôi cúi đầu
xuống, đấm
ngực ăn năn. N.H từng nhắc tôi trách nhiệm
kẻ sĩ.
Quẳng đi những
xác chữ vô hồn, những
vần vè mua bán tụng
ca, những rêu rao tình dục.
Làm mới thơ ư?
Có thể! Nhưng không vì thế mà
bắt con chữ thánh hiền bò như cua
cáy. Một khúc Binh
Xa hành làm nên rạng
ngời Đỗ Phủ ngàn năm sau. Một khúc vô thanh đoạn
trường ai oán tận trời
dựng lên một Nguyễn Du thơm nhan
cổ tích. Ôi, móc mắt đi
thôi, những kẻ sĩ mắt chuột chù khua khắng
chiêm bao giấc mơ phù hoa, nôn
thốc những buồn rầu vớ vẩn vịt vờ.
Giáng Tiên lại
gọt trái cây, những ngón gầy hiện giữa mịt mờ bao rừng phong đổ máu xuống mùa thu.
Lá trong vườn hình như cũng
nhuộm sắc vàng héo úa
của buổi chiến chinh muôn chăn nằm goá gối.
Tôi hỏi nhỏ. Anh Hảo không dùng rượu? Anh cười nhũn nhặn: Rượu đầy
hốc mắt lô xô/ nghìn
năm ai biết dưới mồ ta say?. Bỏ
đi Đỗ Phủ! Bây giờ là mùa
thu, kể
chuyện Khuất Nguyên đây. Mặt lại hồng ửng, tay mở
ra về phía xa xôi,
anh đọc:
Tóc bạc cả nồi cơm
Ta biết
làm gì với
chòm râu rơm rác
Với vòm trời
úp xuống như nơm
Cây ngô đồng
bạn ta mùa thu ăn gần hết
Ngủ Tử Tư, một đêm bạc tóc, đau vận
nước non, còn tôi? Tôi sờ
lên tóc, tóc bạc rồi,
nhìn qua N.H tóc nhen nhóm bạc
nên chia với anh một
chút tâm tình Ta biết làm gì với
chòm râu rơm rác. Ôi, thơ rác
rơm mà râu rơm rác!
Và nầy:
Nước Sở ơi
Đừng bắt ta nhìn người
lịm chết
Hạc bỏ trời
Tùng bách cũng
mồ côi
Cả một triều đình bị điếc
Tai Sở
vương làm thối lưỡi ta rồi
Sao chuột không khoét mắt ta đi?
Đời ngủ cả chỉ thức toàn mắt lá
Ta đang
nhìn thấy gì
Vua tin dùng chó má
Hoạn quan đi
đầy đường
Hiền nhân vào
ngục đá (2)
Tôi
đã nhìn thấy một T.M.H nổi giận, cái giận cái căm khi
đời ngủ
cả chỉ thức toàn mắt lá. Giong anh
sang sảng, hào khí bừng bừng như hôm nào Văn
Thiên Tường đọc Chính Khí ca lồng lộng đất trời. Cả một triều
đình bị điếc/ Tai Sở vương làm thối lưỡi ta rồi. Trời
bỗng tuôn mây, gió trong
vườn dấy lên ào ạt . Tôi bắt chợt anh mắt Giáng
Tiên nhìn phu quân đắm
đuối còn ông quỷ con thì gõ gõ
nhịp vào bàn. Không bận tâm, cảm xúc thi
sĩ như sóng cuốn duềnh trôi mấy phách phong ba:
Sở từ, Sở từ
Khúc Ly Tao hát đứt cổ
Thơ viết rụng từng đốt tay(2)
Tôi nhắm mắt lại, hình dung ra cái
bóng Khuất Nguyên mờ mờ nhân ảnh
bên bờ Dương Tử, cái bóng hát
ca buồn vui trong đục, từng con chữ, từng ngón tay rời rụng
rụng rời rồi chìm xuống đáy Mịch La. Vệt trán thi sĩ
bống nhăn nhíu như nấc
lên tiếng tù và vĩnh
biệt mặt trời đoan ngọ. Sao kiếp
người lại buồn hơn kiếp ma? Và,
đầu anh gục xuống như một mặc niệm Ta gửi lại một vòm trời
hình sọ / Để trầm mình trong chính
khúc thơ ta… Ngoài kia,
sông vẫn chảy, đời vẫn trôi và tôi lặng
nghe, trong tiếng rầm rì của mạch
đất, lời thoại của Bác chài năm
xưa: Người
đời đục
cả, sao không khuấy bùn lên khua
sóng mà chơi?(3)
Giáng Tiên mời
chúng tôi dùng trái cây
bằng cái giọng Huế vẫn còn ngọt
lịm như muốn làm cho cái không
khí loảng đi màu đục
cùa bùn khua
sóng, nhay nháy mắt với phu quân
nhưng thi sĩ đang say thơ, đang hứng tình đời nên mặc kệ. Tôi vẫn mến mộ Tư Mả Thiên suốt đời lấy bút vạch
mặt chim chuột, đêm nước mắt mài mực thành
quốc nạn nên đã viết
Tư Mã Thiên - Đêm cung hình. Hảo nói và không
chờ chúng tôi ý kiến, thi sĩ lại
ngửa mặt nhìn trời. Mây thu xuống thấp, mây bay như chiếu rách bỏ giường.
Thời thế vặt lông ngòi bút lông
Ai viết
sử theo
vui buồn quyền lực
Ai trấn lột lương tâm, ai đạo đức tồng ngồng?
Dưới vòm trời
điếm nhục
Ta bị
tước quyền
làm đàn ông!( 4)
Quyền làm đàn
ông, quyền làm đàn ông,
tôi nghe quỷ con lẩm
nhẩm và thấy khóe cười anh đau rách mắt,
phần tôi thức ngộ ra rằng Hảo
đã làm thơ, không phải bằng cách truy tìm
con chữ - phu
chữ như cách của Trần Dần - Lê Đạt - mà anh vục
mặt xuống lòng mình để
thổ ra thơ. Thơ khóc khi anh mắt máu
chảy, thơ cười khi anh hi ha. Này đây vặt
lông ngòi bút lông, nầy
ai đạo
đức tồng ngồng. Thơ không
mới. Vâng! Nhưng ai dám
bảo nhảm nhí nhàm tai
khi vòm trời
còn đầy điếm nhục
nhan nhản những tay bán chữ, hót lời tụng
ca quẹo lưỡi.
Đêm thu
qua để xác mình trong vàng
nắng lá
Vĩnh biệt nàng! Ta làm con gián gậm nhấm thỏi mực đen
Đ ể sự thật biết còn tờ giấy trắng
Lịch sử nào chăn gối
bút lừa nghiên?(4)
Giọng thi sĩ
bỗng khàn, khàn đục và anh, trong
cơn đại du mộng mị hóa thân làm
kiếp gián gậm nhấm thỏi mực đen. Mực màu đen,
mùa thu
hóa đen…
Vợ chồng anh tiễn chúng tôi ra cổng. Trưa đã vàng lá
thu mưa
sin sít. Cửa lại khép và tôi biết,
trong đó, có một con gián, một chú sâu vẫn rướn lên đi tìm
nhân tính (5) dù sâu muôn
năm bị giẫm dưới chân người .
Sài gòn 26/9 - Thu mưa 2008
·
Các từ in nghiêng trích thơ Trần Mạnh Hảo
·
1- Đỗ Phủ
·
2- Khuất Nguyên
·
3- Song thoại giữa Khuất Nguyên và bác chài
·
4- Tư Mã Thiên
: đêm cung hình
·
5- Thơ Vĩnh Phúc
·
(nguồn
www.damau.org)