BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO VIỆT
Trần Mạnh Hảo
Tiến Sĩ Chu Văn Sơn
lâu nay được nhà nước Việt Nam cho giảng
dạy môn Văn Trung học trên Đài truyền h́nh Việt
Nam, giảng viên văn học dạy ở các đại học,
chuyên luyện thi học sinh giỏi văn và dạy trong các
ḷ luyện thi đại học ở Hà Nội và khắp
cả nước. Ông c̣n là Ủy viên Hội
đồng Lư luận phê b́nh văn học của Hội
Nhà Văn Việt
T.M.H.
1 | CÓ THẬT NGUYỄN
DU TẢ LIỄU CHỈ ĐỂ TẢ LIỄU
?
Báo “Văn
Nghệ” số 47 ra ngày 20-11-2004 có in bài: “Thêm một công
tŕnh nghiên cứu có chất lượng về Thơ Mới”
của Văn Giá, nhằm ca
ngợi hết lời cuốn: “Ba đỉnh cao Thơ Mới”
của Chu Văn Sơn (viết
về Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử – NXB Giáo
Dục, 2003), với sự đề cao mà nếu dành cho
Hài Thanh e c̣n hơi quá: “Công tŕnh này tự nó đă có một
dáng dấp của một lư thuyết nghiên cứu
riêng”…“Người viết đă như gọi được
hồn vía của mỗi nhà thơ hiện lên trang giấy”…“Chu Văn
Sơn đă có một ngôn ngữ
phê b́nh riêng… mang ấn tín, quyền uy của
Chu Văn
Sơn cho toàn bộ thơ Hàn
Mặc Tử là thơ điên, với một h́nh thức
điên, là h́nh thức cái tột cùng; rồi thơ Hàn Mặc
Tử là thơ điên nên nó khác với thơ trữ t́nh,
thơ điên Hàn Mặc Tử lại cũng khác với
Thơ Mới… toàn là chuyện động trời mà tác giả
“Ba đỉnh cao Thơ Mới” làm giật thót tim người
đọc; hoặc giả chuyện Chu
Văn Sơn
giải thiêng thơ t́nh Xuân Diệu khi tuyên bố “nàng
thơ” trong thơ t́nh Xuân Diệu” là hai mang, vừa mọc
râu vừa nảy nở nhũ hoa, nghĩa là nửa trai nửa
gái…
Trước khi có những bài
bàn với Chu Văn Sơn
về những ‘phát minh’ trên, trong bài này, chúng tôi muốn trao
đổi với ông về lối tả liễu của
Nguyễn Du mà theo ông, chỉ nhằm tả liễu; c̣n cách
tả liễu của Xuân Diệu mới là cách tả liễu
hay ho, vượt lên cách tả liễu của tác giả
chuyện Kiều. Ấy là khi Chu
Văn Sơn
b́nh giảng bài thơ: “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu
từ trang 98 đến trang 124 (sách đă dẫn), với
việc so sánh lối tả liễu của Xuân Diệu mới
hơn, hay hơn lối tả liễu của Nguyễn Du,
như sau: “…C̣n Xuân Diệu?
Ấy là dáng liễu. Khi rặng liễu bắt đầu mang
dáng đứng chịu tang, thi sĩ biết rằng mùa thu đă hiện diện ở xứ sở
này: “Rặng liễu đ́u hiu đứng chịu tang / Tóc
buồn buông xuống lệ ngàn hàng: / Đây mùa thu tới,
mùa thu tới / Với áo mơ phai dệt lá vàng…”. “Chúng ta biết,
Thơ Mới bắt đầu mới
trong cảm xúc…. Nét dễ thấy ở
đây là một lối liên tưởng mới. Chính lối liên tưởng này đă tạo ra một
vẻ đẹp mới cho đối tượng cũ.
Ai cũng biết liễu là h́nh ảnh quá quen
thuộc trong thơ cổ điển. Trong Truyện
Kiều thật nhiều những dáng liễu đẹp:
“- Lơ thơ tơ liễu buông mành
- Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”
“…Trong thơ Nguyễn Du, liễu
có phần nghiêng về vẻ đẹp khách quan, liễu
chủ yếu hiện lên bằng vẻ đẹp của
bản thân liễu. Nhà thơ mới Xuân Diệu
không chịu làm thế. Ông đă “áp đặt”
vào liễu một vẻ đẹp chủ quan, liễu
mang trong nó vẻ đẹp người. Từng ḍng
lá liễu rủ xuống mang trong nó những ḍng tóc đang
buông xuống và trăm ngh́n giọt lệ đang tuôn xuống.
Tâm trạng liễu là tâm trạng người.
Cảm nhận liễu, người ta cứ thấy phảng
phất trong liễu bóng dáng những giai nhân đài các, kiêu sa mà âu sầu buồn bă. Trước Xuân Diệu,
xem ra, chưa có một dáng liễu nào giống thế”… “Cảm
xúc thẩm mỹ mới về mùa thu của Xuân Diệu,
rơ ràng đă gắn liền với một khía cạnh thi
pháp mới, đó là một trường liên tưởng
tân kỳ: vẻ đẹp tạo vật thiên nhiên
được quy chiếu về vẻ đẹp của
những giai nhân…”.
Qua trích đoạn trên, ta thấy
Chu Văn
Sơn đă bộc lộ một
số cái sai sau:
Cái sai thứ nhất là khi Chu Văn
Sơn bảo trước
Xuân Diệu chưa hề có lối mượn thiên nhiên
để tả người, chưa có “thi pháp”: “Vẻ
đẹp tạo vật thiên nhiên được quy chiếu
về vẻ đẹp của những giai nhân”, mà chính
Xuân Diệu mới là người ‘phát minh’ ra lối dùng
thiên nhiên để tả người, cụ thể là
để tả giai nhân. Thưa rằng, tất cả cảnh
vật, thiên nhiên trong thi ca phương Đông từ Kinh
Thi, Ly Tao, qua thơ của các thời Hán, Tấn, Tuỳ,
Đường, Tống, Minh, Thanh…bên Trung Quốc và ca dao,
thơ Lư Trần qua Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia
Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huy Tự, Cao Bá
Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú
Xương, Tản Đà …của ta đều dùng lối
mượn cảnh tả t́nh, mượn cảnh tả
tâm trạng, tả người, dùng non tả nước,
dùng âm tả dương, dùng vật tả tâm… và ngược
lại. Ví như Nguyễn Trăi mượn cỏ, mượn
hoa để nói về người, về thời thế,
về vua và về dân: “Hoa th́ hay héo cỏ thường
tươi”…Điều này đă được Nguyễn
Du khái quát thành nguyên lư: “Cảnh nào cảnh chẳng
đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ”.
Cái sai thứ hai của Chu Văn
Sơn là dám bảo Nguyễn
Du tả liễu cốt để tả liễu; mặc
dù mào đầu, ông c̣n giảm “tông” kết luận này bằng
từ “có phần” rồi tiến đến “chủ yếu”;
rằng “Trong thơ Nguyễn Du, liễu có phần nghiêng
về vẻ đẹp khách quan, LIỄU CHỦ YẾU HIỆN
LÊN BẰNG VẺ ĐẸP CỦA BẢN THÂN LIỄU”.
“Chủ yếu” có nghĩa là gần trăm phần trăm
lối tả liễu của Nguyễn Du cốt chỉ nhằm
tả liễu, tả vẻ đẹp bên ngoài liễu
(khách quan). Chu Văn Sơn
khẳng định dứt khoát : “Xuân
Diệu không chịu làm thế”, tức không chịu tả
liễu đơn giản như Nguyễn Du. Vậy ta cần
xem, theo Chu Văn Sơn, Xuân
Diệu tả liễu kiểu ǵ? Chu
Văn Sơn
tấn phong Xuân Diệu lên thành nhà “liễu học” với
3 phong cách nhân hoá liễu như sau: “- “áp đặt” vào liễu
một vẻ đẹp chủ quan – liễu mang trong nó vẻ
đẹp con người- dáng liễu là dáng người”.
Ư của Chu Văn Sơn trên
đă khẳng định Xuân Diệu không tả liễu
như Nguyễn Du. Vậy th́ những ǵ Xuân Diệu phong
cho “liễu” tức là Nguyễn Du không có. Và do đó, theo Chu Văn Sơn,
ta thấy Nguyễn Du có 3 cái thiếu khi tả liễu
như sau:
- Nguyễn Du không “áp đặt”
vào liễu một vẻ đẹp chủ quan, tức vẻ
đẹp của chủ thể sáng tạo.
- Nguyễn Du không cho “liễu
mang trong nó vẻ đẹp người”
- Nguyễn Du không biết tả
“dáng liễu là dáng người”.
Ở chỗ này, Chu Văn
Sơn hoặc chưa đọc
Truyện Kiều, hoặc có đọc mà đọc qua
quưt, đọc mà không hiểu nên đă nói rất liều,
đă đổ tiếng oan cho Nguyễn Du trong sự tả
liễu kém hơn nhiều hậu bối Xuân Diệu. Nếu
Xuân Diệu c̣n sống, đọc tới đoạn này của
Chu Văn
Sơn, chắc thi hào họ
Ngô sẽ giật thót ḿnh mà than rằng: “Không dám đâu!
Đừng nói thế e tôi tổn thọ, rằng về
cái khoản tả liễu, Diệu tôi đây giỏi lắm
chỉ hàng quan cửu phẩm, sao sánh được với
lối tả liễu “ma ma Phật Phật, ảo ảo
chân chân” của bậc cửu trùng Tố Như!”. Nói rồi, chắc Xuân Diệu nhất
định chạy đến trước bàn thờ thắp
hương vái Nguyễn Tiên Điền, xin tha cho kẻ hậu
sinh chưa đọc Truyện Kiều mà dám lộng ngôn
đến thế!”
Nguyễn Du trong
Truyện Kiều đă trên dưới 25 lần nói đến
liễu hoặc tả liễu. Phép tả liễu của Nguyễn
Du quả là biến hoá khôn lường. Đại
thi hào vừa dùng liễu để tả liễu và để
không tả liễu. Tả liễu, Nguyễn
Du tả hồn ḿnh, tả dáng giai nhân, tả t́nh nhân vật.
Tả liễu, Nguyễn Du c̣n tả cả trời
đất trong đó, tả cái hữu hạn thướt
tha trong cái khôn cùng, lại tả cái khôn cùng mượn hữu
hạn liễu mà lơi lả, mà du dương. Tả
liễu, đồng thời Nguyễn Du c̣n như muốn
tả hồn của hậu sinh lúc đọc đến
dáng liễu-Tiên Điền đang buông thả hết rung cảm lên từng câu Kiều tha
thướt… Xin mở ra phép tả liễu của Nguyễn
Du: “Tả liễu: ở chỗ không có liễu vẫn có liễu;
ở chỗ thấy liễu mà không c̣n là liễu nữa”,
như sau:
“Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa người c̣n ghé theo
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”
Đoạn thơ
trên tả nỗi buồn chia xa, lưu luyến của Kim
Kiều sau phút ban đầu gặp gỡ, khi cả hai
cùng bị “tiếng sét ái t́nh”. Trong thơ phương Đông nói chung và thơ cổ Việt
Xem ra, phép tả liễu
của Nguyễn Du cao thủ hơn lối tả liễu
của Xuân Diệu nhiều. Hai câu mở đầu của Xuân Diệu
trong bài “Đây mùa thu tới” mà Chu
Văn Sơn
cho là hay hơn, cao sâu hơn, mới mẻ hơn lối tả
liễu của Nguyễn Du, thực ra là cách viết rất
Tây, cách nhân cách hoá kiểu Tây: “Rặng liễu đ́u hiu
đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ
ngàn hàng”, hầu như đă phơi hết liễu lên mặt
giấy. H́nh ảnh liễu ủ rũ
đứng chịu tang mùa thu, rồi bóng liễu từng
giọt đổ như lệ tuôn là h́nh ảnh rất cổ
trong thơ Tây-Tầu xưa, Xuân Diệu mượn lại
mà mở đầu cái giọng hổn hển, vồ vập,
cuồng nhiệt của ḿnh mà thôi. Đằng sau cây liễu
ủ rũ như người đàn bà
đứng chịu tang, đằng sau muôn giọt liễu
khóc này, ta không c̣n thấy một thứ “liễu” nào nữa.
Nhưng Nguyễn Du, ông tổ của ngành: “Thi pháp-Liễu”
Việt Nam th́ biết tả liễu ở cả những
chỗ không có liễu; lại biết tả người ở
chỗ chỉ có liễu, theo một quy tŕnh biến ảo
kiểu: sau liễu là người, sau người lại
thấy liễu; cứ tưởng là tả nước, tả
hoàng hôn, tả người lên ngựa, người ngó theo
mà thực ra Nguyễn Du toàn tả liễu mà thôi. Lúc người đọc tưởng ông tả
liễu th́ rốt cuộc, lại hiện ra người,
hiện ra hồn vía nhân vật, hồn vía tác giả và lạ
thay, hiện ra cả hồn vía của người đang
đọc Kiều nữa. Không chừng
người đọc“bị” hoá thành liễu lúc nào không
hay?
Chúng tôi muốn dẫn ra hàng chục
trường hợp tả liễu kỳ ảo của
thiên tài Nguyễn Du trong Truyện Kiều, để thấy
mỗi lúc liễu của ông mỗi khác; nhưng v́ khuôn khổ
bài báo có hạn, hẹn một dịp khác lại được
bàn về liễu Nguyễn Du với ông Chu Văn Sơn và ông Văn
Giá. Xin hai ông cùng chúng tôi đọc lên, gọi lên một thứ
Liễu vốn là người, người thật trăm
phần trăm mà vẫn cứ là bóng liễu đổ dài
tha thướt theo nỗi niềm cảm động, nhớ
thương, tiếc nuối, đớn đau của Thúy
Kiều c̣n lưu măi trong hồn chúng ta:
“Khi về hỏi liễu Chương Đài
Cành xuân đă bẻ cho người chuyền tay”
Thương thay cho nàng Liễu
thị của Hàn Hoành bị kẻ khác cướp mất,
để nỗi đau buồn xưa c̣n hoá liễu Kim Kiều,
rủ nhớ thương xuống câu lục bát Nguyễn
Du. Hi vọng việc lấy mất tài tả liễu tuyệt
vời của Nguyễn Du để trao cho Xuân Diệu của
ông Chu Văn
Sơn sẽ không giống việc
nàng Liễu thị của “Toàn Đường thi thoại”
bị người Phiên cướp đi, để lại Chương
Đài một dáng liễu xanh xanh trong nỗi nhớ
thương khôn tả của Thuư-Kiều -Liễu.,.
30-11-2004
2 |
“THƠ ĐIÊN HÀN MẶC TỬ – THI HỌC CỦA CÁI TỘT
CÙNG” – HAY LÀ CÁI TỘT CÙNG CỦA SỰ TÙY TIỆN?
Báo “Văn
Nghệ” số 47, ngày 20 -11-2004 có đăng bài của tác
giả Văn Giá nhan đề:
“Thêm một công tŕnh nghiên cứu có chất lượng về
Thơ Mới”, nhằm hết lời ca ngợi cuốn tiểu
luận: “Ba đỉnh cao Thơ Mới” của Chu Văn
Sơn ( NXB
Giáo Dục, 2003). Có thể nói, những lời ca ngợi Chu Văn
Sơn của Văn Giá nếu dùng cho Hoài Thanh e
c̣n hơi quá, ví dụ: “…Công tŕnh này tự nó đă có dáng
dấp của một lư thuyết nghiên cứu riêng, mặc
dù tác giả chưa có ư định lập thuyết. Một
công tŕnh nghiên cứu được gọi là hay không chỉ
có được những kết quả hay mà c̣n thể hiện
được phương pháp nghiên cứu hay, mới mẻ,
thú vị. Công tŕnh này có được những
phẩm chất như vậy. Tác giả đă thực
sự làm mới lại, trẻ lại những
gương mặt thi sĩ cách chúng ta chừng 70
năm…”…“Người viết đă như gọi được
hồn vía của mỗi nhà thơ hiện lên trang giấy…”…“Chu Văn
Sơn đă có một ngôn ngữ
phê b́nh riêng, hiểu theo cả nghĩa rộng như một
cách thức tiếp cận riêng, và cả nghĩa hẹp,
như một hệ thống từ vựng xác định,
mang ấn tín , quyền uy của Chu
Văn Sơn”…“Công
tŕnh này mang tính chuyên môn cao”…“Công tŕnh này là một minh chứng
thuyết phục cho tính chuyên nghiệp của nghiên cứu
phê b́nh văn học…” …“Với
một tinh thần lao động như thế, chữ
nghĩa của tác giả đă làm nên tư tưởng,
làm nên dấu ấn riêng trên con đường định
h́nh một phong cách nghiên cứu phê b́nh văn học Chu Văn Sơn…”…
Chúng tôi sẽ lần lượt
khảo sát ba phần của cuốn: “Ba đỉnh cao
Thơ Mới” của Chu Văn Sơn
(viết về Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử)
xem những lời tụng ca hết cỡ trên của Văn Giá với tác giả này
đúng hay sai, xem “tư tưởng”, “phong cách”, “ấn tín”
và “quyền uy” của Chu Văn Sơn
là những món ǵ… Phần đầu tiên, chúng tôi muốn bàn
với hai ông Chu Văn Sơn
và Văn Giá về linh hồn
phần viết về Hàn Mặc Tử của Chu Văn
Sơn từ trang 226 đến
trang 245 trong cuốn sách đă dẫn với tiêu đề:
“THƠ ĐIÊN HÀN MẶC TỬ – THI HỌC CỦA CÁI TỘT
CÙNG”.
Trước hết, chúng tôi muốn
bàn về khái niệm: “THƠ ĐIÊN HÀN MẶC TỬ” do Chu Văn
Sơn phát minh ra trên cơ sở
nhận xét của Chế Lan Viên về “trường
thơ Loạn Quy Nhơn” trong lời tựa cho tập
“Điêu tàn” như sau: “Cái ǵ của nó cũng tột cùng!”. Nghe nói Hàn Mặc Tử có ư định
đặt tên cho tập thơ
“Đau thương” là “Thơ điên”, nhưng rồi thi
hào bỏ ư định không chuẩn đó. Có
lẽ v́ điều này mà Chu Văn Sơn
lầm tưởng rằng “Đau thương” là “Thơ
điên” nên ông đă điên hoá toàn bộ thơ Hàn chăng?
Đồng thời, Chu Văn Sơn
c̣n ngây thơ tách câu văn “ Cái ǵ của nó cũng tột cùng” của Chế
Lan Viên ra khỏi văn cảnh,
ngữ cảnh của nó là bài tựa của chính Chế
Lan Viên cho tập “Điêu tàn”, để lấy từ “CÁI TỘT
CÙNG” này ra làm “mỹ học của cái tột cùng”, “thi học
của cái tột cùng”. Chao ôi, “CÁI TỘT CÙNG SỐNG”,
tận cùng sống là ǵ nếu không phải là “CHẾT”.
Như vậy, theo công thức của Chu Văn Sơn : Thơ
điên Hàn Mặc Tử = Thi học của cái tột cùng,
theo phép tam đoạn luận, ta có đẳng thức TỘT
CÙNG SỐNG = CHẾT = THƠ ĐIÊN… ư? Có bao nhiêu sự
vật (bao gồm sự vật vật chất và sự vật
tinh thần), th́ cũng có bấy nhiêu cái tột cùng, có thể
kể ra VÔ TẬN CÁI TỘT CÙNG như tột cùng tốt,
tột xùng xấu, tột cùng thiện, tột cùng ác, tột
cùng chim, tột cùng khỉ, tột cùng tuỳ tiện, tột
cùng lăng nhăng… Thành ra theo Chu Văn
Sơn, ta có thể có hàng tỉ
tỉ chủng loại THI HỌC ư? Cho nên, khái niệm
THI HỌC CỦA CÁI TỘT CÙNG = THƠ ĐIÊN …là một
khái niệm tuỳ tiện, lăng
nhăng chẳng hề có cơ sở khoa học ǵ cả.
Xin hăy nghe Chu
Văn Sơn
lập thuyết, lập luận: “Chinh phục cái tột
cùng, tất nhiên, cần phải có thơ ca của một
h́nh thức tột cùng. H́nh thức ấy liệu có thể
là ǵ khác hơn Thơ điên?”. Như vậy, theo Chu Văn Sơn
“Thơ điên” không hề là một nội dung, mà nó chỉ
là MỘT H̀NH THỨC, tức là THƠ ĐIÊN = MỘT H̀NH
THỨC TỘT CÙNG. Ở trang 231, Chu
Văn Sơn
lại viết gần như ngược lại rằng
thơ điên không c̣n thuần tuư là một h́nh thức
như kết luận ban đầu của ông nữa, mà nó
có nội dung đấy, như sau : “ Và
đây là cái gốc của Thơ điên. Đúng thế, nếu
ĐAU THƯƠNG LÀ NỘI DUNG SÁNG TẠO, th́ ĐIÊN LÀ
H̀NH THỨC của sáng tạo ấy” (Phần chữ in
hoa trong bài đều do TMH nhấn mạnh). Qua kết luận
này của Chu Văn Sơn,
ta có một đẳng thức sau :
THƠ ĐIÊN = NỘI DUNG ĐAU THƯƠNG + H̀NH THỨC
ĐIÊN. Kết hợp đẳng thức 1 với đẳng
thức 2 trên đây, ta có một đẳng thức khá trọn
vẹn của Chu Văn Sơn
như sau : THƠ ĐIÊN = MỘT H̀NH THỨC
TỘT CÙNG = NỘI DUNG ĐAU THƯƠNG + H̀NH THỨC
ĐIÊN.
Đến mức
này, “lư luận” của Chu Văn Sơn
đang đẩy “hệ thống điên” của ông vào chốn
tắc tị. Vậy, xin hỏi thế nào là MỘT H̀NH THỨC
TỘT CÙNG? Chẳng lẽ, CÁI TỘT CÙNG mà Chu Văn
Sơn nâng lên thành “Thi học”,
thành “Nguyên tắc mĩ học đặc thù của Thơ điên” (trang 227) lại chỉ là một
h́nh thức mà không có nội dung ư? Hoá ra, theo Chu Văn
Sơn, lại có một thứ
“THI HỌC”, một thứ “MĨ HỌC” chỉ thuần
có h́nh thức mà không có nội dung ư? Nhưng
rồi, sao MỘT H̀NH THỨC TỘT CÙNG lại chính là H̀NH
THỨC ĐIÊN; hoá ra, rút gọn lại, ta thấy Chu Văn
Sơn lại đồng
nghĩa CÁI TỘT CÙNG chính là ĐIÊN. Nhưng quả
t́nh luẩn quẩn, lung tung beng, làm sao
trong MỘT H̀NH THỨC TỘT CÙNG lại chứa nổi
cái NỘI DUNG ĐAU THƯƠNG + H̀NH THỨC ĐIÊN
đây? Ôi chao, thuật ngữ kinh dị của Chu Văn
Sơn phát minh ra mới lẩm
cẩm làm sao: H̀NH THỨC ĐIÊN? Thế nào là “h́nh thức
điên”, rồi “một h́nh thức tột cùng” th́ xin ông Chu Văn
Sơn lư giải cho rơ, kẻo
chúng tôi người trần mắt thịt không có cách ǵ nhận
thức nổi !
Bây giờ, xin quư độc giả
hăy nghe Chu Văn Sơn giải
thích từ ĐIÊN ở trang 227: “Cái tên có phần giật
gân của Thơ điên, ngay từ đầu
đă có sức mê hoặc giới nghiên cứu. Người
ta nghĩ ngay đến việc nhận diện bản chất
của ĐIÊN và bản chất Thơ
điên. Không ít người đă yên trí với cách nghĩ
giản đơn: điên chỉ là một trạng thái bệnh
lư, đồng nghĩa với chứng loạn thần
kinh, mà không thấy rằng c̣n có ĐIÊN NHƯ MỘT TRẠNG
THÁI SÁNG TẠO”.
Chao ôi, ĐIÊN NHƯ MỘT TRẠNG
THÁI SÁNG TẠO là một định đề hết sức
phi khoa học của Chu Văn Sơn.
Không một trạng thái sáng tạo nào có thể được
gọi là sáng tạo nếu nó được sáng tạo
trong cơn điên. Bới v́ mọi sự sáng tạo trong
các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật đều
ra đời trong sự kết hợp giữa cảm xúc
và lư trí. ĐIÊN dù trong trường hợp
nào, trạng thái nào cũng đều là sự loạn trí,
mất hết lư trí, mất hết nhận thức.
Không c̣n nhận thức, không c̣n lư trí, không c̣n bộ óc th́
làm sao người nghệ sĩ có thể sáng tạo? CÁI
ĐẸP của sáng tạo nghệ thuật bao giờ
cũng là một cái đẹp của khát vọng CHÂN THIỆN
MỸ trong thế giới con người. Khi
một kẻ nào đó, một trạng thái nào đó bị
coi là điên, tức là mất khả năng nhận thức,
mất khả năng NHẬN CHÂN; thiếu cái CHÂN, nghệ
thuật cũng đồng thời không đạt tới
cái THIỆN. Trong trạng thái ĐIÊN nơi kết luận
của Chu Văn Sơn, nghệ
thuật nói chung và thi ca nói riêng đă
khước từ khả năng CHÂN THIỆN th́ làm sao nó
có thể đạt được tới cái MỸ là CÁI
ĐẸP đích thực thi ca?
Trong khi định nghĩa:
“ĐIÊN NHƯ MỘT TRẠNG THÁI SÁNG TẠO” Chu Văn
Sơn đă cố t́nh lờ
đi ngữ nghĩa của từ ĐIÊN. Xin xem định
nghĩa của ĐẠI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT
của Bộ GD&ĐT do NXB Văn
hoá Thông tin in năm 1999, trang 633 như sau: “ĐIÊN: Ở
t́nh trạng rối loạn thần kinh, không tự chủ
được bản thân, phát khùng, rồ dại…”. Bảo Thơ Hàn Mặc Tử là thơ điên,
thơ khùng, thơ rồ dại, thơ mất trí là một
sự vu khống trắng trợn, phủ nhận sạch
trơn thiên tài thi ca Hàn Mặc Tử của Chu Văn
Sơn vậy.
Người đọc thơ,
hơn nữa là một người nghiên cứu văn học chuyên nghiệp
như Chu Văn Sơn, sao
lại không biết một nguyên tắc đơn giản
là muốn kết luận một điều ǵ cần phải
căn cứ trên văn bản,
chứ không căn cứ những lời đồn thổi
hay tuyên bố ngoài văn bản
dù là của ngay chính tác giả. Trong một số tuyên bố
của Hàn Mặc Tử hay Chế Lan Viên thời “trường
thơ Loạn Quy Nhơn”, có thể các thi sĩ này
nghiêng về phần “mê”, phần “vô thức”, phần “loạn”,
hoặc toan đặt tên tập thơ ḿnh là “Thơ diên”…
cho hợp với phong trào giả điên của thời thế
đang tiếp thu cái phần cực đoan của “tượng
trưng”, “đa đa”, “dă thú”, “siêu thực”… Nên
nhớ rằng những người điên thực sự
không bao giờ nhận ḿnh điên. Chỉ những
người tỉnh táo mới thậm xưng nói ḿnh
điên, như một sự làm dáng nghệ thuật, hoặc
chứng tỏ ta đây đă thoát khỏi trường
thơ truyền thống…
Thơ Hàn Mặc Tử phần
lớn vẫn là sự tiếp thu nghệ
thuật trữ t́nh truyền thống ông cha xưa kết
hợp với chất lăng mạn và một chút tượng
trưng. Ngay cả những bài thơ mang tựa đề
rất điên như “Anh điên” dưới đây của
Hàn Mặc Tử cũng vẫn dựa trên thể ngũ
ngôn truyền thống với một hiện thực trữ
t́nh, chẳng hề là một thứ “Thơ điên-Thơ
khùng” mất hết lư trí như Chu
Văn Sơn
vu khống : “Anh nằm ngoài sự thực
/ Em ngồi trong chiêm bao / Cách nhau xa biết mấy / Nhớ
thương quá th́ sao ? / Anh nuốt phút từng chữ / Anh
cắn vỡ lời thơ / Anh cắn cắn cắn /
Hơi thở đứt làm tư !”.
Xin dẫn thêm một bài thơ khác được Hàn Mặc
Tử đặt tên là “Em điên” th́ vẫn cứ là thứ
thơ truyền thống kết hợp tí chút lăng mạn, một
vẻ đẹp nền nă, mê đắm kiểu “Gái quê”,
chẳng hề có sự mất trí, sự rồ dại
khùng điên nào như Chu Văn Sơn
vu vạ: “Em xé toang hơi gió / Em bóp nát tơ trăng / Em
túm muôn trời lại / Em cắn vỡ hương ngàn / Em
cười th́ sao rụng / Em khóc th́ đá bay / Em nhớ chàng
quá trí / Mà chàng vẫn không hay!”…
Chính v́ sự đọc không kỹ,
chưa biết cách đọc thơ Hàn hay v́ một nguyên
nhân nào đó mà việc Chu Văn Sơn
xoá sổ Hàn Mặc Tử bằng cách vu cáo thơ ông là
Thơ điên, thơ khùng, thơ mất trí, thơ rồ dại
lại được Văn
Gía ca ngợi hết lời trên báo Văn
Nghệ là một việc không sao hiểu nổi. Chỉ
trong phần viết về Hàn Mặc Tử, Chu Văn
Sơn tung
ra bao nhiêu điều tuỳ tiện, lăng nhăng núp
dưới bóng khoa học. Chẳng hạn như việc Chu Văn
Sơn tách
Thơ Hàn Mặc Tử ra khỏi
lănh địa THƠ TRỮ T̀NH v́ nó là THƠ ĐIÊN
như sau: “Trong thơ trữ t́nh, việc chủ thể
phân thân, hoá thân vào các đối tượng hết sức
khác nhau để cất lên những tiếng nói trữ
t́nh phong phú khác lạ không c̣n là điều xa lạ nữa.
Ở Thơ điên, t́nh h́nh có khác hơn…”.
Hoá ra, theo Chu
Văn Sơn,
v́ Thơ Hàn Mặc Tử là Thơ Điên nên nó không phải
là thơ trữ t́nh?
Ở phần đầu, Chu Văn
Sơn cho rằng Thơ Điên từ trong Thơ Mới
(1932-1945) mà ra nhưng rất khác Thơ Mới. Nhưng
đến đoạn cuối, ông quên ḿnh đă nói điều
này, để đến nỗi viết ngược lại
rằng THƠ ĐIÊN và THƠ MỚI là hai loại khác
nhau: “Nếu Thơ Mới là hành tŕnh đi măi vào địa
hạt cái tôi, th́ Thơ Điên mang cái
tham vọng muốn tới chỗ sơn
cùng thuỷ tận của cái tôi đó. Nếu Thơ Mới
là nỗi cô đơn của con người, th́ Thơ
Điên là trạng thái chót cùng hoàn toàn quá tải của cô
đơn…”.
Hoá ra Thơ điên Hàn Mặc Tử không
nằm trong lănh địa của Thơ Mới ư?
Chu Văn
Sơn c̣n đưa cái thứ
thơ mất lư trí, thơ rồ dại, phi nhân (v́ con
người không c̣n trí năo th́ không c̣n là người hoàn chỉnh
nữa) do ông “phát minh” ra rồi gán cho Hàn Mặc Tử,
đặng ca ngợi hết lời cái thuật ngữ
“thơ điên” là đă vượt lên trên cả siêu thực,
tượng trưng, hiện đại như sau: “Xem
ra, Siêu thực, Tượng trưng, Hiện đại…đều
là những cái ô chật chội đối với thể
h́nh ngoại chuẩn của Thơ điên”. Để kết
luận, Chu Văn Sơn khái
quát rất tuỳ tiện như sau: “THƠ ĐIÊN – chỉ
có thể là chính nó- Tiếng thơ của những cái tột
cùng”. Với định nghĩa về Thơ Điên
thoáng tới mức vô bờ bến như thế này, ta có
thể theo Chu Văn Sơn
mà kết luận Thơ Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Chế
Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư… thảy đều
là THƠ ĐIÊN CẢ. V́ sao vậy? V́
thơ của các thi sĩ kia đều
là THƠ CỦA CÁI TỘT CÙNG. Này nhé : Xuân Diệu là tột
cùng yêu, Nguyễn Bính là tột cùng nông thôn, Chế Lan Viên là
tột cùng ma, Lưu Trọng Lư là tột cùng ngơ
ngác, Huy Cận là tột cùng vũ trụ… Ngay cả với
định nghĩa THƠ ĐIÊN LÀ TIẾNG
THƠ CỦA CÁI TỘT CÙNG của Chu
Văn Sơn
th́ những đại thi hào dân tộc như Nguyễn
Trăi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương cũng sẽ bị
Chu Văn
Sơn xếp vào rọ
THƠ ĐIÊN mất thôi; v́ Thơ Nguyễn Trăi là thơ của
tột cùng buồn đau, thơ Nguyễn Du là thơ của
cái tột cùng hay, tột cùng kêu thương, thơ Hồ
Xuân Hương là cái tột cùng bản ngă, tột cùng cái
tôi…
Và học theo phương pháp luận
về “mỹ học của cái tột cùng”, “thi học của
cái tột cùng là thơ điên”, một thứ thơ dùng
“h́nh thức điên” mà diễn đạt các khái niệm u
u ơ ơ nơi bài viết trên của Chu Văn Sơn và bài ca ngợi của Văn Gía, cho phép chúng tôi được
bắt chước hai ông mà thưa lời cuối rằng:
những điều các ông “phát minh” ra trên đây quả thực
là CÁI TỘT CÙNG TUỲ TIỆN vậy .,.
28-11-2004
(source : “Thế
Giới Mới số 614, ngày 4-12-2004)
3 | CÓ THẬT CON
NGƯỜI CÁ NHÂN (CON NGƯỜI ĐỜI THƯỜNG)
CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH CHỈ TOÀN LÀ CẶN BĂ ?
Sở dĩ chúng tôi đă cho
công bố ba bài báo in trên “Văn
Nghệ”, “Người Hà Nội” , “Thế
Giới Mới” trong tháng 12-2004 phê b́nh tiến sỹ Chu Văn
Sơn, trong cuốn sách “ Ba
đỉnh cao Thơ Mới (viết về Xuân Diệu,
Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử – NXB Giáo Dục) đă công
khai núp bóng nghiên cứu khoa học để hạ bệ,
bôi nhọ danh dự và thi ca từ Nguyễn Du tới Hàn Mặc
Tử. TS. Chu Văn Sơn
đang là giảng viên khoa văn
đại học sư phạm Hà Nội, lại thường
xuyên lên Đài Truyền Việt Nam b́nh giảng văn thơ cho cả nước
học tập, thường xuyên được các sở
giáo dục mời đi bồi dưỡng các đội
tuyển học sinh giỏi văn
lớp 12, nên việc ông dùng những kiến thức không
chuẩn, những quan niệm sai lầm, những nhận
định có tính chất mạ lỵ, xúc phạm tới
các tác giả lớn để giảng trong nhà trường
là một việc làm rất nguy hiểm; ví như việc
tác giả để hẳn một chuyên luận bảo
thơ Hàn Mặc Tử là thơ điên khùng, là thứ
thơ mất trí, vô nghĩa, nhảm nhí; lại nói xấu
Nguyễn Du bảo ông tả liễu thua xa Xuân Diệu, tả
liễu chỉ cốt để tả liễu, mặc dù
trong Truyện Kiều đại thi hào đă 25 lần tả
liễu và toàn là tuyệt chiêu của nghệ thuật thi
ca. TS. Chu Văn Sơn c̣n
ra sức nói xấu, hạ bệ thơ t́nh Xuân Diệu
như bảo “nàng thơ” của nhà thơ t́nh số một
Việt Nam là nửa trai, nửa gái, rằng “em”, với
“nàng” trong thơ t́nh Xuân Diệu phần lớn là đám
đực rựa râu ria xồm xoàm; rằng chính con người
Xuân Diệu có cấu tạo sinh lư nửa đực, nửa
cái…
Đă đến
lúc chúng tôi phải nhờ công luận báo chí tạo sức
ép, không cho phép TS.
Chu Văn Sơn
được dùng các diễn đàn hết sức quan trọng
và nhậy cảm như để hạ bệ, bôi nhọ
trắng trợn các thần tượng văn học nước nhà. Ấy vậy
mà kinh ngạc thay, trên báo “Văn
Nghệ” số 47, ngày 20-11-2004, tác giả Văn Giá bằng bài viết: “Thêm một công
tŕnh nghiên cứu có chất lượng về Thơ Mới”
đă hết lời ca ngợi TS. Chu
Văn Sơn,
bằng những lời tung hô đại
ngôn mà nếu dành để khen Hoài Thanh, e cũng c̣n quá
đáng. Chỉ xin tóm tắt mấy ư, mấy từ của
Văn Giá, coi Chu Văn
Sơn như “vua” phê b́nh
thơ nước nhà như sau: “MANG ẤN TÍN, QUYỀN
UY CỦA CHU VĂN SƠN”,
“Có dáng dấp một lư thuyết nghiên cứu riêng”, “Làm nên
tư tưởng, dấu ấn riêng”, “Xuất sắc”,
“Tính chuyên môn cao”, “Mang phong cách Chu
Văn Sơn”,
“Gọi được hồn vía của mỗi nhà thơ
hiện lên trang giấy”…
Lần này, chúng tôi xin mời quư
độc giả, xem Chu Văn Sơn
gọi hồn Nguyễn Bính hiện lên trang giấy bằng
cách bảo sau khi vắt kiệt tinh hoa cho thơ, cuộc
đời riêng (tức con người cá nhân đời
thường) của nhà thơ Nguyễn Bính chỉ c̣n toàn
là cặn bă . Trước hết, xin quư độc giả
xem quan niệm về con người của Chu Văn
Sơn đúng hay sai : “Nghiên cứu tiểu sử nhiều
nhà văn, lắm lúc thấy
nghi ngờ cái tín điều đă thành mặc nhiên trong truyền
thống : văn là người.
Thực ra, chẳng phải nhọc ḷng hoài nghi. Nó vẫn mặc nhiên là tín điều. Có
chăng, cần phải hiểu thế nào về người
thôi. Sự đồng nhất giản đơn con người
sinh hoạt với con người văn
chương th́ rất dễ gây thất vọng, hẫng hụt.
Bởi văn là sự lên tiếng
của con người tâm linh, con người khát vọng.
Khát vọng chân chính của một con người chính là biểu
hiện tập trung cho bản chất của người ấy.
Và do đó, tầm vóc khát vọng cũng quyết định
phần lớn tầm vóc của cá nhân. Tôi chưa biết
anh là ai, nhưng hăy bộc bạch khát vọng của ḿnh,
tôi sẽ biết anh là ai”…
Quan niệm về con người
của Chu Văn Sơn trên
đây là hoàn toàn duy tâm và không đúng. Đánh giá con người
đúng hay sai, xấu hay tốt, đẹp hay không đẹp
người ta đánh giá trên tư tưởng, t́nh cảm,
lời nói và hành vi người ấy, chứ sao lại chỉ
căn cứ trên khát vọng, trên ước mơ của
người ấy như Chu Văn
Sơn bảo “khát vọng” là
“bản chất” của con người, rằng: “…Hăy bộc
bạch khát vọng của ḿnh, tôi sẽ biết anh là ai”
(!) Ví dụ như khi có một tên chuyên môn giết người
cướp của mang bộ dạng thiện lương,
ăn mặc rất trí thức lịch lăm đến gặp
Chu Văn
Sơn, rồi bộc bạch
khát vọng của ḿnh như sau : tôi luôn
ước mơ sống trong giàu sang phú quư và khát vọng cả
thế gian ai cũng vợ đẹp con khôn, ăn sung mặc
sướng, tôi muốn thế giới ḥa b́nh, xă hội phồn
vinh… Ôi chao, toàn là khát vọng chân chính cả thôi
! Nếu chỉ căn cứ vào khát vọng này để
đánh giá, chứ không căn cứ vào hành vi
(thực chất anh này là tên giết người cướp
của) th́ e tất cả bọn đao phủ trên thế
gian này đối với Chu Văn Sơn
đều có thể là người tốt cả ư? Khát vọng của Hitle, Mao trạch Đông, Stalin,
Pônpốt, Kim Nhật Thành… há chẳng tốt đẹp lắm
sao? Bao nhiêu kẻ có ước mơ khát vọng
vương đạo nhưng hành vi th́
bá đạo. Bao nhiêu kẻ lấy mục đích tốt
đẹp (khát vọng b́nh đẳng, tự do, bác ái) làm
môn bài, làm b́nh phong để che lấp hành vi xấu xa,
độc ác, ví như dương ngọn cờ chính
nghĩa của Cách Mạng tư sản Pháp đi cướp
nước người ta đó sao ?
Mang quan niệm sai trái về con
người như trên, rồi áp đặt vào đánh giá
con người nhà văn, Chu Văn
Sơn đă đi từ sai lầm
này đến sai lầm khác: “Cho nên “văn là người” là con người ấy,
tức con người bên trong, con người bề sâu,
con người khát vọng”. Đánh giá “con người
nhà văn” sao chỉ căn cứ
vào khát vọng của anh ta? Sao lại tách con người
thật, con người đời sống, con người
thân phận mang tư tưởng, t́nh cảm, mang bi kịch
cá nhân của nhà văn ra khỏi
bản chất bên trong làm nên nghệ thuật của anh ta?
Việc Chu Văn Sơn tách
“khát vọng bên trong” ra khỏi đời sống bên ngoài của
nhà văn là tách cá ra khỏi
nước, tách nội dung ra khỏi h́nh thức, tách hồn
ra khỏi xác, cũng giống như việc cắt đứt
sợi dây diều vẫn buộc con diều vào mặt
đất. Bằng quan niệm duy tâm này, Chu Văn Sơn mượn lời Nguyễn
Khải để cặn bă hoá con người nhà văn nói chung và con người
Nguyễn Bính nói riêng : “Nhà văn
Nguyễn Khải có lần nói: đối với anh nghệ
sĩ, phần tốt đẹp cao quư nhất của tâm hồn
đă trút vào văn
chương hết rồi. C̣n những ǵ thể hiện
trong sinh hoạt đời thường, đôi khi chỉ
là phần cặn bă của hắn mà thôi. Người ta
đă kể ra chả ít chuyện nhếch nhác, bê tha, lôm
loam của Nguyễn Bính trong sinh hoạt giao du.
Con người đời thường lắm chỗ sao
mà trái cựa trái khoáy với con người văn chương đến thế.
Nhưng bức chân dung tinh thần đích thực là thuộc
về cái tôi bề sâu của nghệ sĩ. Cái
tôi ấy tự hoạ trong văn
chương ngay cả khi nó không hề tự giác. Nguyễn Bính đă trút vào thi ca tất cả những
khát vọng sâu kín và cao quư nhất của ḿnh. Cho nên CHẢ V̀ CÁI BĂ BÊN NGOÀI
MÀ NGHI NGỜ CÁI HỒN BÊN TRONG. Cũng bởi SỰ
KHÔNG ĐỒNG NHẤT NÀY mà trong nghiên cứu nghệ thuật
mới cần phân biệt CON NGƯỜI THI SĨ (NGOÀI
ĐỜI) và CÁI TÔI THI SĨ (TRONG VĂN)…
(Phần chữ in hoa trong bài do TMH nhấn mạnh).
Ngay cả khi nói đùa, nói cốt
để nhún ḿnh, diễu ḿnh, chọc ḿnh… đi nữa
th́ câu nói Chu Văn Sơn dẫn
ra được cho là của Nguyễn Khải (nói ở
đâu, trong hoàn cảnh nào, ngữ cảnh nào?) cũng không
thật đúng. Dù tác giả có đưa từ “đôi khi”
đi kèm, tức để nói rằng không phải là phổ
biến, th́ ư tưởng bảo nhà văn
sau khi sáng tạo, tinh hoa phát tiết hết ra ngoài nên bản
thân “hắn” chỉ c̣n là cặn bă là một cách bôi nhọ
nhà văn, bôi nhọ người
nghệ sĩ. Xin xem “Đại từ điển Tiếng
Việt” của Bộ GD&ĐT (NXB Văn hoá Thông tin 1999) trang 271, định
nghĩa từ “cặn bă” như sau: “Cái vô dụng, xấu
xa, thấp hèn, đáng bỏ đi, ví như phần cặn
và bă sau khi đă chắt lọc, lấy hết tinh chất:
trừ bỏ cặn bă, văn
chương cặn bă, phần tử cặn bă trong xă hội”.
Vượt qua mức độ “đôi khi chỉ là phần
cặn bă của hắn ”-nhà văn, Chu
Văn Sơn
áp dụng ngay vào trường hợp Nguyễn Bính, và không
hề nới tay, đă cặn bă hoá cuộc đời
tư của nhà thơ này bằng từ: CÁI BĂ BÊN NGOÀI: “Nguyễn
Bính đă trút vào thi ca tất cả những khát vọng sâu
kín và cao quư nhất của ḿnh. Cho nên, chả
v́ CÁI BĂ BÊN NGOÀI mà nghi ngờ
CÁI HỒN BÊN TRONG”. Trong đời thực, hoàn toàn không có cứ liệu
nào chứng minh cuộc đời riêng của Nguyễn
Bính toàn là cặn bă như Chu Văn Sơn
vu vạ.
Ở chính chỗ
này, Chu Văn
Sơn đă “pha” cuộc
đời nhà thơ Nguyễn Bính ra làm hai phần hồn
và xác, như người ta “pha” thớt thịt heo:
xương ra xương, thịt ra thịt, huyết ra
huyết. Nghiên cứu
tác giả tác phẩm mà ‘nghiên cứu’ theo
phương pháp mổ ḅ thế này, th́ tiêu vong hết mọi
đối tượng tiếp cận mà thôi. Sau khi “pha”
Nguyễn Bính ra làm hai phần hoàn toàn riêng biệt và đối
lập hẳn nhau : CON NGƯỜI THI
SĨ ĐỜI THƯỜNG chính là CẶN BĂ và CÁI HỒN
BÊN TRONG – CÁI TÔI THI SĨ TRONG VĂN
toàn là tinh hoa cao quư. Hoá ra, cơ sở của văn thơ tinh hoa cao quư kia lại
chính là CẶN BĂ ư ? Làm sao một con
người có cuộc đời cá nhân, cuộc đời
thân phận vô dụng, xấu xa, thấp hèn, đáng khinh,
đáng bỏ đi, thải hoại đi như thế lại
sinh ra vàng mười thơ ca toàn là thiêng liêng quư giá
được? Tục ngữ Việt
Đối lập hoàn toàn giữa
con người nhà văn với
tác phẩm của ông ta, rồi c̣n CẶN BĂ HOÁ đời
sống thường nhật của nhà văn không chỉ trong trường hợp
riêng Nguyễn Bính, như Chu Văn Sơn
đă làm trên đây là một hành vi tiêu diệt chính văn học vậy. Thế mà lạ
thay, Văn Giá lại mượn
báo Văn Nghệ mà khen Chu văn
Sơn đến mức tót vời
như thế, th́ quả là không c̣n trời đất ǵ nữa
rồi.,.
11-12-2004
T.M.H.
©