BỘ GD&ĐT VIỆT NAM ĐĂ SAI GS. NGUYỄN ĐĂNG MẠNH GIẾT MÔN VĂN BẰNG QUỐC NẠN “VĂN MẪU” NHƯ THẾ NÀO ?

 

Trần Mạnh Hảo

 

Lời thưa: Vừa rồi GS.Nguyễn Đăng Mạnh vừa tung lên Internet nhiều chương trích trong cuốn hồi kư của ông, trong đó ông mạ lị chúng tôi (TMH) là “lưu manh, đầu gấu văn học”. GS. Mạnh c̣n ví ḿnh với Chúa Jêsu bị môn đồ phản bội. Hơn 30 năm nay, GS. Mạnh là vị GS số 1 của Đại học Sư phạm từ Vinh đến Hà Nội, cũng như là vị tiên chỉ của Bộ GD&ĐT trong lĩnh vực dạy văn. Ông cũng là vị chủ biên SGK Văn trung học phổ thông, trung học cơ sở lâu năm nhất và viết nhiều giáo tŕnh đại học để các nghiên cứu sinh văn học làm luận án tiến sĩ. Việc học sinh Việt Nam hiện nay vô cùng sợ, thậm chí căm ghét môn văn là dấu hiệu suy vong của dân tộc. Thiết tưởng, với hậu quả “diệt chủng môn văn” trong nhà trường này, GS. Nguyễn Đăng Mạnh không thể phủi tay để đổ lỗi cho người khác, trong khi chính GS đă góp phần rất “tích cực” để giết chết môn văn. Trước khi tung lên Internet 20 bài phê b́nh các bài viết bài giảng của GS. Mạnh, chúng tôi xin gửi tới quư báo mạng và quư bạn đọc chùm bài phê b́nh “văn mẫu” của nhóm GS. Nguyễn Đăng Mạnh: Đỗ Ngọc Thống, Hà B́nh Trị, Chu Văn Sơn là những vị GS, TS đang tham gia soạn SGK văn trung học của Bộ GD&ĐT, giữ cương vị phụ trách môn văn của Bộ và kiêm nghề dạy văn trên Đài truyền h́nh Việt Nam.

 

 

QUỐC NẠN "VĂN MẪU": SOS (!)

Trần Mạnh Hảo

 

"Trời đă sinh ra người mẫu để tŕnh diễn thời trang, để làm đẹp các trang báo, các tấm lịch và làm vui mắt cuộc đời, sao trời c̣n báo hại gia đ́nh tôi sinh ra hàng chục tập "Bài văn mẫu " trong nhà trường làm thui chột hết văn phong lớp trẻ!". Đấy là lời ông bạn tôi một sáng trước tết tại nhà ông, khi chúng tôi cùng nhâm nhi phin cà phê Ban mê Thuột bàn chuyện trên trời dưới biển như thường lệ. Ông bạn tôi c̣n chưa chịu nguôi ngoai về chuyện "Văn mẫu", tiếp tục than văn, vân vi.

 Rằng ông có ba đứa con, thằng lớn hiện đang học luật ở Úc, đứa thứ hai học đại học kiến trúc Sài G̣n và đứa thứ ba là gái đang học lớp 12, đều là học sinh giỏi văn trong nhà trường cả. Là dân văn chương, nên ông rất đau khổ khi thằng lớn từ Úc viết bao nhiêu thư về thăm gia đ́nh mà thư nào cũng sai từ chính tả sai đi. Ông bảo thật xấu hổ, bác là bạn thân tôi mới dám nói, 26 tuổi sắp thành luật sư rồi mà thằng lớn nhà tôi viết lá thư nào về câu cú cũng quá lủng củng, từ ngữ Tiếng Việt dùng sai bét, dấu chấm, dấu phảy đánh lung tung canh hẹ. C̣n thằng thứ nh́ vừa rồi làm dùm mẹ nó mấy cái công văn, mấy cái thư kêu gọi đầu tư đầu túi ǵ đó khiến bà nhà tôi phải nhờ tôi viết lại. Nghĩa là, chúng không biết viết một câu văn Tiếng Việt cho ra hồn, không biết cách diễn đạt ư ḿnh sao cho khúc chiết, giản dị, trong sáng, dù chỉ là những văn bản đơn sơ nhất. C̣n con bé lớp 12, chiều mới đi học nhưng bác nghe nó đang học thuộc ḷng văn mẫu chưa? Đấy, ra rả như ve sầu tháng hạ, điếc tai bố mẹ và hàng xóm v́ "văn mẫu". Không biết cô giáo hay bạn bè nào xui mà nó về khoe với tôi rằng cứ  học thuộc ḷng cuốn "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" này, đảm bảo thi đâu trúng đó. Tôi bảo thế nào cháu cũng không nghe. Nó bảo bố không biết đâu, năm sáu năm nay, nhờ cuốn cẩm nang "VĂN MẪU" này mà học tṛ thi tốt nghiệp 12 môn văn đậu ráo, thi vào sư phạm văn, tổng hợp văn, trúng bóc hết, giờ toàn học tủ không à bố ơi. Nó c̣n bảo cuốn văn mẫu số một này toàn những giáo sư, những ông lớn ra đề thi của Bộ viết không à ...

Bạn tôi lôi ra để trên bàn hơn một chục cuốn "Bài văn mẫu" dành cho lớp 10,11,12, cuốn nào cũng dày cộp với đủ thứ tên mỹ miều đầy tính thương mại thu hút học sinh rằng thi đâu trúng đó. Tôi đếm sơ sơ cũng đă hơn một ngh́n bài "văn mẫu" đa số do NXB Giáo Dục, NXB Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản. Tôi hỏi ông bạn viết văn của tôi rằng ông đă thử ngó qua những bài "văn mẫu" này chưa? Ông méo mặt lắc đầu: rồi, khổ lắm, mẫu với chả miếc, hầu như chẳng bài nào viết có văn, lại có nhiều bài sai cả ngữ pháp, lỗi hành văn đầy như viết lủng củng, dây cà ra dây muống, trùng lặp th́ là mà, kiến thức th́ có bài sai bài đúng, không c̣n ra làm sao. Bạn xếp cả một đống "văn mẫu " vào cái bị cói, đoạn nhét vào tay tôi bảo trăm sự nhờ bác, hăy ra tay cứu con em chúng ta một lần nữa đi, tôi khổ v́ ba đứa con nhiễm thói "văn mẫu" không c̣n dạy chúng viết lại câu văn Tiếng Việt cho đúng cho hay nữa rồi. Tôi hơi hoảng, chưa biết ất giáp ǵ. Bạn tôi vẫn c̣n khổ thân chưa hết méo mặt, nói như van nài: rằng, bác mang về đi, mang về mà viết phê b́nh, viết hẳn một tập sách chỉ ra những cái sai về nhận thức, về phương pháp luận, về kiến thức, về văn phong dây cà dây muống này rồi in thành sách mà báo động cho cả nước rằng, các cụ ơi, các đồng chí ơi, các bác ơi, các người ơi, hết nạn sách giáo khoa văn bị quốc hội và báo chí phê phán, giờ đến nạn "văn mẫu" đang tàn phá tâm hồn con em chúng ta. Có như thế, mới làm dư luận xă hội thức tỉnh mà lên án nạn "văn mẫu" đang hoành hành theo cách bán bài mẫu, bán bài tủ kiếm tiền của những người nào đó ...Nhưng tôi khuyên bạn tôi để cho cháu gái, của các anh nó và của nó cơ mà, lấy đi liệu có làm cháu sốc không? Ông bạn bảo tôi cấm hết. Nó nói nếu bố cấm, chỉ cấm mười một cuốn kia thôi, c̣n nếu cấm cả cuốn "217 đề và bài văn" này mà thi tốt nghiệp 12 tới, con trượt môn văn, bố chịu trách nhiệm đấy. Tôi sợ quá xuống thang, chỉ để lại cho cháu riêng cuốn tủ này thôi, c̣n bác cầm cả đi. Tôi xách cái bị "văn mẫu" đứng lên ra về. Tới cổng, bạn bảo, có đủ các sách "văn mẫu" cho bác đấy, chiều qua tôi đi mua được cả cuốn "217 đề và bài văn" cho bác, ráo cả một bị đầy nhá, thương các cháu mà bác phải phê b́nh đi, làm một cuốn sách dày ba trăm trang ví dụ như "vấn nạn văn mẫu "chẳng hạn, hoặc "văn mẫu đang giết văn", hoặc "Văn mẫu ơi chào mi"....

Nể ông bạn, thương các cháu bị các bài "văn mẫu" lấp hết đường sáng tạo trong việc học văn, biến sự học thành học tủ, học gạo, học đối phó, học để thi. Tôi về nhà, bỏ ra đúng 20 ngày vừa đọc vừa ghi chép mới hết một bị "văn mẫu" quư hoá này mà bàng hoàng cả người, không c̣n tin vào mắt ḿnh nữa.. Người xưa có câu "Tí tiểu tu cần học / Văn chương khả lập thân". Chế Lan Viên viết: "Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn". Dạy văn, học văn trong nhà trường là một truyền thống nhân văn lớn của dân tộc. Văn học là nhân học. Học văn trước hết là cách tốt nhất để học làm ngưới. Dạy văn do đó là một việc rất hệ trọng, thiêng liêng, nhằm truyền cho học sinh ư thức, tư tưởng, t́nh cảm thẩm mỹ của tâm hồn ông cha, giúp các em yêu Tổ Quốc ḿnh trước hết bằng cách yêu tiếng Việt, yêu thơ văn ông cha. Dạy văn, cốt yếu là hướng cho các em biết cách độc lập , sáng tạo trong tiếp nhận thẩm mỹ. Đưa ra những bài "Văn mẫu" không hề mẫu mực trong cách viết, không có văn chính là tiêu diệt khả năng sáng tạo thẩm mỹ văn học của học sinh vậy. Hội chứng “văn mẫu" là một vấn nạn xă hội lớn đang kêu cứu SOS !

 

 

 

CÓ THẬT: "VĂN CHƯƠNG LÀ VẬT VÔ TRI" ? HAY MỘT BÀI VĂN MẪU QUÁ KÉM CỎI

Trần Mạnh Hảo

 

Kết luận làm sửng sốt mọi người trích trên đầu đề bài này không phải là của người viết mà lấy ở trang 99, ḍng 1, cuốn văn mẫu dành cho học sinh trung học: "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang của đồng tác giả gồm bốn vị sau: G S. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên ), T S. Đỗ Ngọc Thống, T S. Hà B́nh Trị và Chu Văn Sơn. Nguyên câu văn được trích như sau: "Văn chương là vật vô tri làm ǵ có số mệnh, định mệnh. Ấy vậy mà đối với Nguyễn Du, văn chương cũng có mệnh, cũng biết vương vấn, cũng biết "lụy" trước những nỗi oan khuất của kẻ tài hoa". Hai câu văn trích này lấy từ bài phân tích bài thơ "Độc Tiểu Thanh kư" của Nguyễn Du từ trang 93 đến trang 103 của cuốn sách đă dẫn, do NXB đại học quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2000. Mặc dù ngoài b́a chính và b́a phụ chỉ ghi bốn vị trên là tác giả cuốn sách: do các vị ra đề, các vị tự làm bài văn mẫu. Nhưng trong ruột sách, có đến 10% bài văn mẫu do những người khác viết, nhưng những người này không được đứng tên là đồng tác giả (?). Bài văn mẫu phân tích "Độc Tiểu Thanh kư" có ghi ở cuối rằng: "Bài của Nguyễn Nhật Huy (có sửa chữa chút ít). Dù bài văn mẫu này do Nguyễn Nhật Huy viết, nhưng đă được bốn vị đồng tác giả trên sửa chữa, thông qua, cũng có nghĩa là, quan điểm nghệ thuật trong bài văn không c̣n của riêng ông Nhật Huy nữa mà c̣n là của các tác giả ghi trên b́a sách. Đây mới là vấn đề chính yếu để chúng tôi bàn về kết luận quá lạ tai trên .

Hai câu thơ "Chi phấn hữu thần liên tử hậu / Văn chương vô mệnh lụy phần dư" trong bài "Độc Tiểu Thanh kư" được dịch nghĩa không mấy thống nhất ở nhiều bản dịch khác nhau. Chúng tôi cho rằng lối dịch của nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân có lư hơn cả, nên theo ông, viết lại như sau: "Bức chân dung có thần bị đốt mất, khiến đời sau ai cũng cảm thương cho nàng / Văn chương của nàng không có mệnh đă được nàng đốt hết, chỉ c̣n phần dư cũng bị người vợ cả đốt mất". ("T́m hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều"-Nguyễn Quảng Tuân - NXB KHXH... 2000, tr 93). Nguyễn Du nhân đọc cuốn truyện nàng Tiểu Thanh mà viết nên bài thơ trên. Nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn toàn, lấy lẽ người họ Phùng, bị vợ cả ghen tuông hành hạ bắt ở một ḿnh trên núi Cô Sơn, đến nỗi buồn mà chết lúc mới 18 tuổi. Trước khi chết, nàng đă đốt hết tập thơ của ḿnh, c̣n sót phần dư cũng bị người vợ cả đốt mất. Người vợ cả c̣n đốt cả bức truyền thần của nàng để lại mới thôi. Nay chúng tôi chỉ bàn qua về lối phân tích bài thơ của các tác giả trong bài văn mẫu đă dẫn. Khi bài văn mẫu viết: "Văn chương là vật vô tri, làm ǵ có số mệnh, định mệnh" chắc tác giả suy ra từ câu thơ "Văn chương vô mệnh lụy phần dư"? Tác giả tưởng rằng Nguyễn Du khái quát chung là "Văn chương vô mệnh" nên nhân thể cũng kết luận rằng "Văn chương là vật vô tri". "Độc Tiểu Thanh kư" là bài thơ chữ Hán rất hay và rất sâu đằm, đa ngữ nghĩa của Nguyễn Du. Đầu đề bài thơ phải dịch là "Đọc bài kư truyện nàng Tiểu Thanh" mới sát nghĩa. Nên khái niệm văn chương trong câu thơ trên phải hiểu rằng văn chương của nàng Tiểu Thanh chứ Nguyễn Du không đến mức ngô nghê mà khái quát chung rằng "văn chương vô mệnh" như người viết bài văn mẫu này hiểu.

Con người dù mất đi, nhưng những giá trị tinh thần bất hủ của nó được gởi trong những áng văn chương thiên tài như trước tác của Nguyễn Trăi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương ...bao giờ cũng sống măi. Văn chương là thông điệp của ư thức, tư tưởng, tâm hồn con người, là chính con người hoá thân vào trong chữ nghĩa, h́nh ảnh, h́nh tượng. Hàng chục kiệt tác văn chương của cha ông truyền lại nói như tác giả bài văn mẫu kia chắc hẳn đều là những vật vô tri vô hồn vô giác ư? Chả lẽ thơ Lư Trần, đại kiệt tác "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trăi, đại kiệt tác "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, các bản kim cổ hùng văn như bài "Thơ Thần" của Lư Thường Kiệt, "B́nh Ngô đại cáo" của Nguyễn Trăi... thảy đều là những vật vô tri cả sao? Không, di sản văn hoá vĩ đại kia của cha ông để lại chính là tâm hồn dân tộc được lưu truyền măi măi. Lư Bạch ca ngợi văn chương Khuất Nguyên: "Khuất B́nh từ phú huyền nhật nguyệt / Sở vương đài tạ không sơn khâu" (Văn chương của Khuất Nguyên sáng măi cùng mặt trời, mặt trăng / Đền đài vua Sở giờ chỉ c̣n là g̣ hoang). Ca ngợi Đỗ Phủ, Nguyễn Du viết: "Thiên cổ văn chương thiên cổ sư " (Văn chương để lại muôn đời, bậc thầy của muôn đời". Chế Lan Viên từng viết: "Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn". Kết luận của bài văn mẫu trên rằng: "Văn chương là vật vô tri" là một kết luận hết sức sai lầm, hết sức tầm bậy, như là một cách hữu hiệu nhất xoá bỏ chính bản chất của văn chương vậy. Kết luận này c̣n nguy hiểm hơn nữa v́ nó là bài văn mẫu cho học sinh trung học dùng làm mẫu mực, làm gương soi.

Ngoài cái sai rất cơ bản về quan điểm học thuật như trên, bài văn mẫu này c̣n có nhiều cái sai khác. Chúng tôi xin lấy một vài thí dụ làm bằng. Tác giả bài văn mẫu thường viết câu văn lủng củng dây cà ra dây muống, vô nghĩa như sau: "Từ đầu đời Minh, cái lúc nàng Tiểu Thanh sống và chết, cái lúc nàng quằn quại trong cái ghen kiểu Hoạn Thư tàn nhẫn đến lúc này, Nguyễn Du không phải đứng trưóc mộ nàng mà chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ". Câu văn trên không chỉ lặp quá nhiều từ mà c̣n có thể phải ngắt ra để chấm câu, bỏ bớt từ ngữ thừa mới rơ nghĩa. Chúng tôi xin sửa lại câu văn ḷng tḥng trên, chia thành hai câu cho đúng câu văn Tiếng Việt: "Từ đầu đời Minh, nàng Tiểu Thanh sống và chết, quằn quại trong cái ghen kiểu Hoạn Thư tàn nhẫn. Nguyễn Du không phải đứng trước mộ nàng mà chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ". Nghĩa là một câu văn của bài văn mẫu phải bỏ đi tám chữ và thêm một dấu chấm mới đúng Tiếng Việt. Bài văn mẫu c̣n không làm gương trong việc dùng ngôn ngữ Việt, lại hay dùng từ Hán Nôm ví dụ như "thiên cổ t́nh thư", "nam âm tuyệt xướng", "sinh hoa diệu bút", "can tràng", "Ngộ gia đệ cựu ca cơ" (Gặp nàng hầu cũ của em - chú của TMH), "phi lộ", "đồng bệnh tương lân", "huyệt lộ", "hoa uyển"... Bài văn mẫu có khi lại dùng những từ vô nghĩa: "nét mặt sầu rầu". Có khi bài văn mẫu lại viết cả những câu văn vô nghĩa, như câu văn thứ hai của đoạn trích này: "Hai câu thực đă khẳng định ḷng cảm thương sâu sắc và nỗi oán hận, nỗi uất ức của ông với thời đại, khẳng định bản chất, tâm hồn Nguyễn Du. Bản chất ấy vượt xa so với thời đại". Rất nhiều khi bài văn mẫu tung ra những kết luận không chính xác. Ví dụ như khi tác giả viết: "Tác giả đau đớn, căm giận trước sự thất bại của cái đẹp, cái thiện, trước sự thắng thế của cái ác... "Viết như thế này, quả t́nh tác giả bài văn mẫu chưa hiểu được bản chất nghệ thuật của bài thơ "Độc Tiểu Thanh kư". Đúng là về hiện tượng nhất thời, cái đẹp, cái thiện là tài sắc và tâm huyết nàng Tiểu Thanh bị cái ác, cái xấu tạm thời thắng thế thật. Nhưng cuốn sách ghi lại cuộc đời nàng Tiểu Thanh đă sống măi, nghĩa là nàng sống măi để nhận niềm thương cảm của hậu thế tri âm tri kỷ ví như sự thương cảm vô cùng của Nguyễn Du với nàng qua bài thơ, mở ra khả năng chiến thắng của cái đẹp, cái thiện. Khi người đọc muôn đời thương cảm nhan sắc và tài thơ nàng Tiểu Thanh, cũng có nghĩa là lên án cái xấu, cái ác qua nhân vật người vợ cả th́ sao dám bảo cái ác, cái xấu thắng thế cái thiện mỹ? Bài thơ thấm đẫm t́nh nhân đạo kia của Nguyễn Du chính là bài ca chiến thắng của chân thiện mỹ vậy.

Bài phân tích bài thơ "Độc Tiễu Thanh kư" trong cuốn văn mẫu đă dẫn trên c̣n nhiều khuyết điểm khác về ư tưởng, tu từ, về diễn đạt câu văn... Chỉ cần bằng ấy sai sót từ quan điểm nghệ thuật đến nội dung và h́nh thức chúng tôi dẫn ra trên, ta thấy bài văn trên sao có thể biến thành mẫu mực cho học sinh trung học?  Khi người ta dám đưa một bài tập làm văn kém cỏi chỉ xứng đáng điểm 2 này ra làm bài văn mẫu, th́ con em chúng ta làm sao có thể học giỏi môn văn? Đây không chỉ là một việc làm thiếu trách nhiệm của những người soạn sách, mà c̣n là sự báo động toàn thể xă hội về một thực trạng đáng buồn: việc giảng dạy tắc trách môn học quan trọng nhất trong nhà trường là môn văn.

 

 

                                                                                                             

MỘT BÀI VĂN MẪU LÀM GƯƠNG XẤU CHO HỌC SINH VỀ DIỄN ĐẠT, TU TỪ

Trần Mạnh Hảo

 

Cuốn sách "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" là tập bài văn mẫu dành cho học sinh trung học, dày 627 trang, do NXB Đại học quốc gia Hà Nội tái bản lần thứ hai năm 2000 với số lượng lớn. Đó là cuốn sách của bốn vị đồng tác giả : GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị và Chu Văn Sơn, một tập văn mẫu có quá nhiều sai phạm về nội dung và h́nh thức. Chưa nói tới vấn đề sư phạm: đưa ra thứ văn mẫu này sẽ làm thui chột khả năng sáng tạo độc lập thẩm mỹ văn học nơi học sinh, mà chỉ mới bàn sơ về phương cách viết làm sao cho đúng một câu văn tiếng Việt, cũng cần phải có hàng nhiều chục bài phê b́nh mới đủ. Chúng tôi đă và sẽ lần lượt bàn về những cái sai quá nhỡn tiền trong một số bài của tập văn mẫu trên. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ trưng ra những bằng chứng về sự sai phạm nghệ thuật viết câu văn của bài văn mẫu phân tích "Vẻ đẹp của h́nh tượng cây Xà Nu" trong truyện "Rừng Xà Nu" của Nguyễn Trung Thành, từ trang 539 đến trang 545.

Ở trang 541, tác giả viết: "Người Xô Man sinh ra dưới bóng Xà Nu, lớn lên lam làm, sinh hoạt cùng với Xà Nu, đến lúc hẹn ḥ cũng ở dưới gốc Xà Nu, và khi yên nghỉ cũng nằm bên dưới những cánh rừng Xà Nu ấy. Nhờ đó mà Nguyễn Trung Thành đă vẽ ra được trước mắt người đọc về một làng Xô Man  cụ thể xác thực, đó là xứ sở Xà Nu, thế giới Xà Nu". Chúng tôi xin bỏ đi 25 chữ, thêm một dấu phảy, một dấu chấm câu để đoạn văn mẫu trên không c̣n lủng củng, rườm rà, trùng lặp, sửa lại như sau: "Người Xô Man sinh ra, lớn lên, lam làm, sinh hoạt, hẹn ḥ, yên nghỉ cũng bên dưới những cánh rừng Xà Nu ấy. Nhờ đó, Nguyễn Trung Thành đă vẽ ra được một làng Xô Man cụ thể, xác thực. Đó là xứ sở Xà Nu, thế giới Xà Nu". Cũng ở trang 541 này, tác giả viết một câu văn rất ngắn mà đă lặp ba lần từ "là" như sau: "Nghĩa là khía cạnh thứ nhất tả thực c̣n khía cạnh thứ hai tượng trưng". Câu văn này có hai cách viết làm cho thành trong sáng. Cách thứ nhất, chỉ cần bỏ từ đầu "Nghĩa là". Cách thứ hai bỏ đi 5 chữ, thêm  2 dấu hai chấm (:), có thể viết lại như sau: "Khía cạnh thứ nhất: tả thực, khía cạnh thứ hai: tượng trưng".

 Ở trang 542, tác giả bài văn mẫu viết: "Rừng Xà Nu hiện ra với ba lứa cây chính: lứa những cây già, lứa những cây trẻ và lứa những cây non. Chúng lại hiện ra với những cảnh ngộ và thân phận rất tương ứng với con người: có những cây bị phạt ngang thân ḿnh, có những cây ḿnh đầy thương tích, nhưng không bom đạn nào làm cho nó gục ngă, lại có những cây non mới mọc ra nhưng đă đâm lên khỏi mặt đất nhọn hoắt như những mũi lê". Tác giả bài văn mẫu trong đoạn văn này chưa viết đúng câu đơn giản. Chúng tôi xin sửa lại cho đúng với câu văn tiếng Việt, bằng cách bỏ đi 15 chữ (tiếng), thêm 2 dấu chấm câu như sau: "Rừng Xà Nu hiện ra với ba lứa cây chính: cây già, cây trẻ và cây non. Chúng lại hiện ra với những cảnh ngộ và thân phận rất tương ứng với con người: bị phạt ngang thân, ḿnh đầy thương tích. Nhưng không bom đạn nào có thể làm cho nó gục ngă. Có những cây non mới mọc nhưng đă đâm lên khỏi mặt đất nhọn hoắt như mũi lê".

Ở trang 543, tác giả viết một câu văn hết sức lủng củng, dây cà ra dây muống, không cần cả dấu chấm câu như sau: "Nếu ở "Rừng Xà Nu", người ta thấy sức sống của Xà Nu là bất diệt, ḍng nhựa Xà Nu được truyền lại nguyên vẹn từ những cây cổ thụ đến những cây non, th́ ở những con người Xô Man người ta cũng thấy ḍng máu Tây Nguyên cũng được truyền lại từ lồng ngực những thế hệ già sang trái tim những thế hệ trẻ". Chúng tôi sửa lại câu văn trên cho trong sáng bằng cách bỏ đi 12 chữ, thêm 2 dấu chấm câu, một dấu phảy để thành câu văn mới sau: "Ta thấy sức sống của Xà Nu là bất diệt. Ḍng nhựa Xà Nu được truyền lại nguyên vẹn từ những cây cổ thụ đến những cây non. Ở những con người Xô Man, ḍng máu Tây Nguyên cũng được truyền lại trọn vẹn từ lồng ngực thế hệ già sang trái tim thế hệ trẻ". Ngay dưới câu văn này, tác giả viết tiếp một đoạn khác: "Phải, chỉ cụ Mết, chỉ cây Xà Nu cổ thụ ấy mới có toàn quyền để phát ngôn cho sức mạnh của Xà Nu: (trích một đoạn văn của N.T.T.). Và khi người Xô Man đă cầm lấy vũ khí nhất tề đứng lên khỏi nghĩa, th́ cũng được Nguyễn Trung Thành mô tả như sự nổi giận của rừng già ..." Đoạn văn trên phải bỏ đi những từ ngữ thừa như: 2 chữ "có", các chữ "đă", "lấy", "th́ cũng" mới thành câu văn trong sáng và đúng về tu từ học.

V́ những câu phạm lỗi diễn đạt và tu từ của bài văn mẫu kia khá nhiều, cuối cùng, chúng tôi chỉ xin lấy thêm một đoạn văn khác ở trang 544  để chứng minh: "Để biến h́nh tượng Xà Nu thành một biểu tượng nghệ thuật trọn vẹn. Nguyễn Trung Thành c̣n sử dụng một kết cấu rất hợp lư, đó là kết cấu ṿng tṛn mang tính luân hồi. Câu chuyện mở ra bằng h́nh ảnh rừng Xà Nu được đặc tả khá kỹ lưỡng và sắc nét. Cuối cùng Nguyễn Trung Thành lại cũng dùng h́nh ảnh rừng Xà Nu để khép lại câu chuyện. Đây là lối kết cấu vừa đóng vừa mở, khép lại câu chuyện này để mở ra câu chuyện khác. Khiến cho người đọc có cảm tưởng rằng đây chỉ là một chương trong lịch sử ngàn đời của người Xô Man, chỉ là một chương trong bản anh hùng ca vô tận của Tây Nguyên". Đoạn văn trên mắc nhiều lỗi sơ dẳng. Lỗi thứ nhất là việc dùng từ không chính xác: "Kết cấu ṿng tṛn mang tính luân hồi". Luân hồi (métempsychose) là thuyết nhà Phật chỉ kiếp người: sống chết là hoán chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, xoay tṛn như bánh xe không dứt, sao lại dùng cho kết cấu tác phẩm văn học theo nghệ thuật thủ vĩ tương ứng này? Cứ cho rằng tác giả bài văn mẫu kia dùng khái niệm "tính luân hồi" là đúng đi, th́ ngay câu dưới lại gọi là "Kết cấu vừa đóng vừa mở". Kết cấu "đóng..mở" th́ không thể gọi là "luân hồi" được. Câu văn đầu và câu văn cuối của đoạn văn trên là các câu văn cụt, phải bỏ dấu chấm thay bằng dấu phảy. Câu văn thứ hai và thứ ba phải bỏ đi nhiều chữ thừa để ghép thành một câu duy nhất. Câu văn thứ tư dài ḍng, thiếu một dấu chấm câu. Chúng tôi xin sửa lại đoạn văn trên cho đúng với phép tu từ tiếng Việt: "Để biến h́nh tượng Xà Nu thành một biểu tượng nghệ thuật trọn vẹn, Nguyễn Trung Thành c̣n sử dụng một kết cấu rất hợp lư: kết cấu ṿng tṛn. Câu chuyện mở đầu bằng h́nh ảnh rừng Xà Nu và khép lại cũng rừng Xà Nu. Đây là lối kết cấu vừa đóng vừa mở. Nó khép lại câu chuyện này để mở ra một câu chuyện khác, khiến người đọc có cảm tưởng đây chỉ là một chương trong lịch sử ngàn đời của người Xô Man, một chương trong bản anh hùng ca vô tận Tây Nguyên".

Với tất cả những lỗi rất cơ bản về nghệ thuật hành văn, nghệ thuật tu từ như trên, bài văn mẫu phân tích truyện "Rừng Xà Nu" của các tác giả vừa dẫn, quả t́nh đă biến thành tấm gương xấu về việc giữ ǵn sự trong sáng tiếng Việt. Thực cực ḷng cho chúng tôi và bạn đọc phải đi chứng kiến, nêu ra, sửa chữa những sai phạm sơ đẳng của học sinh chính ra chỉ được phép sai phạm ở trung học cơ sở, lại do các vị giáo sư và tiến sĩ nổi tiếng viết ra. Với những bài "văn mẫu" như thế này, không biết người ta c̣n dẫn con em chúng ta đến chốn mù mờ nào trong công cuộc dạy môn văn là môn học để làm người, môn học quan trọng nhất ?

 

T.M.H.

 

 

 

MỘT SỐ ĐỀ VĂN KHÔNG CHUẨN XÁC

Trần Mạnh Hảo

 

Ra đề bài tập làm văn cho học sinh làm luận văn trong nhà trường thiết tưởng là điều quan trọng, không thể khinh xuất để thiếu chuẩn mực. Thế mà, lạ thay, trong cuốn "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang, do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản với số lượng lớn lại có khá nhiều đề văn thiếu chuẩn mực sư phạm. Đây là công tŕnh của bốn tác giả: GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị và Chu Văn Sơn. Đề văn do các tác giả này ra, bài văn mẫu cũng do các vị này làm. Trên một số tờ báo, chúng tôi đă viết bài phê b́nh nhiều bài văn mẫu trong cuốn sách này có nhiều sai sót về nội dung lẫn h́nh thức, không xứng đáng làm mẫu cho học sinh noi theo. Đưa ra văn mẫu phải chăng là để bít hết đường độc lập sáng tạo của học sinh trong quá tŕnh tiếp nhận văn học? Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi xin chỉ ra những đề văn có nhiều lỗi sai phạm về hành văn, về tu từ, về ngữ pháp. Đề văn thầy ra không đúng th́ sao lại đ̣i học tṛ làm đúng và hay bài luận được ?

Ở trang 34 có hai đề văn phải sửa cho chính xác. Đề thứ nhất: "Trong lịch sử văn học nước nhà, một số tác phẩm thơ văn xuất hiện vào thời điểm trọng đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và được coi là những bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, trong đó có tác phẩm B́nh Ngô đại cáo của Nguyễn Trăi. Anh (chị) hăy phân tích bài cáo để khẳng định giá trị nói trên của nó". Đề văn này quá rườm rà, lủng củng. Phải bỏ hết sự trùng lặp, câu văn của đề mới gọn gàng, trong sáng. Chúng tôi xin bỏ các từ sau: "có", "thơ văn", "của dân tộc" và "của nó". Sau khi bỏ từ trùng lặp, ta được một đề văn viết đúng như sau: "Trong lịch sử văn học nước nhà, một số tác phẩm xuất hiện vào thời điểm trọng đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và được coi là những bản tuyên ngôn độc lập, trong đó có tác phẩm  B́nh Ngô đại cáo của Nguyễn Trăi. Anh (chị) hăy phân tích bài cáo để khẳng định giá trị nói trên". Đề thứ hai: "Bàn về tác phẩm B́nh Ngô đại cáo của Nguyễn Trăi, có người đă khẳng định: Đây là tác phẩm có nhiều giọng điệu phong phú và hấp dẫn. Anh (chị) hăy phân tích bài cáo để chứng minh ư kiến trên". Đề văn trên không ổn ở chỗ tác giả dùng từ: "Giọng điệu". Từ "Giọng điệu" thường được dùng ở những trường hợp không đẹp, không hay ví như: "Giọng điệu láo xược", "Giọng điệu phản động", "Giọng điệu con buôn"... Khi đưa từ "Giọng điệu" vào cho văn phong đa dạng của Nguyễn Trăi e không phải, không được. Có thể thay từ "Giọng điệu " bằng từ: "phong cách", "lối thể hiện", "âm hưởng"...

Ở trang 196 đề văn ra về Tản Đà: "Đọc bài thơ Thề non nước của Tản Đà, người th́ cho rằng đây bài thơ viết về t́nh yêu thắm thiết của nam nữ, người th́ quả quyết là tác giả nói về phong cảnh thiên nhiên hữu t́nh, nhưng có người lại khẳng định: Thông qua câu chuyện t́nh yêu và lời thề  thủy chung gắn bó của non nước, tác giả muốn gởi gắm tâm sự đau buồn trước hiện tại tang thương của đất nước niềm ước vọng ở ngày mai. Theo anh (chị) nên hiểu bài thơ như thế nào và hăy phân tích bài thơ để thuyết minh cách hiểu đó". Đề văn trên quả là một câu văn điển h́nh về sai phạm nghệ thuật tu từ tiếng Việt. Ta cứ nh́n vào những chữ nghiêng đậm trên để thấy sự trùng lặp đă khiến câu văn quá lủng củng v́ thừa dấu phảy, thiếu dấu chấm câu. Chúng tôi xin bỏ bớt từ ngữ rườm rà, sửa chữa để câu cú của đề  văn trên đúng văn phạm như sau: "Trước bài thơ "Thề non nước" của Tản Đà, đă có nhiều ư kiến khác nhau. Người nói đây là bài thơ về t́nh yêu nam nữ. Người bảo tác giả viết về phong cảnh thiên nhiên hữu t́nh. Người lại cho thông qua lời thề thủy chung yêu đương gắn bó giữa non và nước, tác giả gửi gắm tâm sự đau buồn trước đất nước tang thương và niềm ước vọng ở ngày mai. Anh hay (chị)..."Ở trang 582, có đề văn về truyện ngắn" Một con người ra đời" của M. Gorky viết như sau: "Tại sao nói "Một con người ra đời" là một h́nh tượng giàu ư nghĩa tượng trưng. Hăy chỉ ra ư nghĩa tượng trưng của nhân vật người mẹ, đứa con, người đỡ và h́nh tượng đại dương trong câu chuyện". Đề văn này hỏng ở chỗ gọi sai tên sự vật. "Một con người ra đời" là tên tác phẩm, tên truyện ngắn của Gorky học sinh phải phân tích. Nhưng người ra đề đă gọi nhầm nó là "h́nh tượng". Phải viết lại như thế này th́ đề văn trên mới đúng logic: "Tại sao nói "Một con người ra đời" là một truyện ngắn giàu ư nghĩa tượng trưng..."

 Ở trang 610, một đề văn về lư luận văn học viết như sau: "Tiếp nhận đ̣i hỏi người đọc sống với tác phẩm  bằng toàn bộ tâm hồn để cảm nhận cái thông điệp thẩm mỹ mà tác giả gửi đến cho người đọc văn học" (SGK Văn 12, phần văn học nước ngoài và lư luận văn học -GD, 1992). Với kinh nghiệm đọc sách của bản thân, em hiểu ư kiến trên như thế nào?". Câu  của đề văn trên là một câu văn què cụt, thiếu chủ ngữ. "Tiếp nhận" cái ǵ ? - Văn học. Mệnh đề đầu của đề văn phải viết lại như thế này mới đúng: "Tiếp nhận văn học đ̣i hỏi người đọc ...". Và cuối câu trích dẫn đề văn trên, cần phải bỏ từ "mà" thay bằng từ "của" : "của tác giả", đồng thời bỏ mấy chữ sau: "...Gửi cho người đọc văn học". .. Sau khi bỏ bớt và sửa chữa, thay từ ngữ, ta được một đề văn đúng văn phạm như sau: "Tiếp nhận văn học đ̣i hỏi người đọc sống với tác phẩm bằng toàn bộ tâm hồn, mới cảm nhận được thông điệp thẩm mỹ của tác giả. (SGK Văn 12...".

Cho hay,  việc ra đề văn cho học sinh làm luận không phải dễ!

 

 

 

"MỜI TRẦU" HAY "MẮNG TRẦU" - MỘT BÀI VĂN MẪU CÓ NHIỀU SAI SÓT

Trần Mạnh Hảo

 

Tập văn mẫu dùng cho học sinh trung học "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" của 4 đồng tác giả: GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị, Chu Văn Sơn, dày 627 trang, do NXB Đại học quốc gia Hà Nội tái bản với số lượng lớn năm 2000, là một cuốn sách c̣n quá nhiều vấn đề phải bàn lại. Ngay việc tung ra hàng trăm bài văn mẫu cho học sinh, liệu có khiến triệt tiêu hết khả năng sáng tạo độc lập của các em khi tiếp nhận thẩm mỹ văn chương hay không, cũng là điều cần phải làm cho rơ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi với các tác giả tập văn mẫu về bài: "Phân tích bài thơ mời trầu của Hồ Xuân Hương" từ trang 53 đến trang 59.

MỜI TRẦU

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau th́ thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi.

Trước khi phân tích bài thơ, tác giả bài văn mẫu mở bài quá dài, với một số khái quát về thơ Hồ Xuân Hương chưa chuẩn xác. Khi tác giả nói Hồ Xuân Hương tuyên chiến với thói trọng nam khinh nữ của xă hội phong kiến th́ đúng. Nhưng khi tác giả bài văn mẫu viết như thế này về thơ Hồ Xuân Hương th́ chưa đúng, không đúng: "...Hồ Xuân Hương tuyên chiến với một thứ khuôn phép, chuẩn mực của xă hội đẳng cấp phong kiến đă trở thành trái tự nhiên, phi đạo lư, bằng những vần thơ ngang ngược, oái oăm, bằng cái tôi ngông nghênh kiêu ngạo của ḿnh: "Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ - Lại đây cho chị dạy làm thơ"; "Ghé mắt trông sang thấy bảng treo - Ḱa đền thái thú đứng cheo leo - Ví đây đổi phận làm trai được - Th́ sự anh hùng há bấy nhiêu" (chữ nghiêng đậm trong bài do TMH nhấn mạnh)... Mấy câu thơ trích dẫn trên không dính dáng ǵ đến kết luận của tác giả. Hai câu đầu là bài thơ nữ sĩ diễu đám học tṛ nhỏ học hành không ra sao, lại hay ghẹo gái; tuy là diễu nhưng vẫn thông cảm, ưu ái. Bốn câu thơ sau là bài thơ chê bai, thậm chí chửi xéo Sầm Nghi Đống, thái thú của quân xâm lược nhà Thanh là quân hèn nhát. Tác giả khái quát thơ Hồ Xuân Hương là "ngang ngược, oái oăm, ngông nghênh kiêu ngạo" là áp đặt, là chưa hiểu thơ bà. Ngay khi dẫn câu thơ trong bài "Dỗ người đàn bà khóc chồng": "Nín đi kẻo thẹn với non sông", tác giả bài văn mẫu tỏ ra không hiểu chính bài thơ và câu thơ này bằng một lời b́nh lạc lơng: "...Thậm chí thách thức với cả vũ trụ càn khôn".

Do chưa nắm được bản chất nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương như những đánh giá vừa dẫn, tác giả lại đưa ra những kết luận vừa suy diễn, vừa theo kiểu phê b́nh xă hội học dung tục, nâng tiếng thơ trào lộng trữ t́nh bi hài của cá nhân bà thành phong trào quần chúng và những ấm ức cần giải toả của lịch sử dân tộc, của xă hội, bằng những lời đao to búa lớn như sau: "Tuy nhiên, nếu Hồ Xuân Hương là tiếng nói đanh thép, dơng dạc của phong trào quần chúng hùng mạnh, quyết liệt nhất th́ đồng thời cũng là sự thể hiện nỗi ấm ách, bực bội không giải toả được của lịch sử một dân tộc tuy khủng hoảng sâu sắc nhưng chưa t́m ra lối thoát". Viết như thế, hoá ra Hồ Xuân Hương bỗng trở thành biểu tượng giải phóng xă hội và dân tộc, thành nhà cải cách của quần chúng (!)

Phần mở bài đă được tác giả viết quá dài, quá linh tinh, gần một nửa bài viết, toàn đưa ra những kết luận không đúng về thơ Hồ Xuân Hương. Khi vào thân bài, tác giả lại lạc đề gần hết một trang, đưa ra nhiều nhận định không đúng khác, ví như kết luận rất sai về Thơ Đuờng như sau: "Thơ Đường thường thiên về tính trừu tượng khái quát, ít khi miêu tả chi tiết cụ thể. Do đó Thơ Đường cũng ít dùng đến những màu sắc cụ thể đập mạnh vào cảm giác người đọc. Thơ Đường thiên về trí tuệ nên thường chỉ gợi liên tưởng chứ ít miêu tả trực tiếp". Chỉ cần đọc ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, cũng đủ thấy kết luận trên về Thơ Đường của tác giả bài văn mẫu này là một kết luận không đúng.

Khi tác giả viết như như dưới đây th́ có vẻ như đă thẩm được bài thơ "Mời trầu": "Cho nên đọc kỹ, lắng kỹ từng câu thơ Mời trầu mà xem, có phải đằng sau cái đanh đá, đáo để, vẫn c̣n một tấm ḷng khát khao tha thiết và một giọng khiêm tốn nhún nhường (Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi - Này của Xuân Hương đă quệt rồi) và không phải không có một cái ǵ như xót xa cay đắng mà nhà thơ không hoàn toàn che dấu nổi (Có phải duyên nhau th́ thắm lại - Đừng xanh như lá bạc như vôi)..

Bài thơ "Mời trầu" khá dễ hiểu, t́nh cảm và ư tưởng của nữ sĩ hầu như đă là một vỉa quặng lộ thiên. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi tác giả bài văn mẫu này tỏ ra không muốn hiểu bài thơ, lại đưa ra những lời phân tích áp đặt, sai lạc tinh thần bài thơ đến cỡ thế này là cùng: "...Mời trầu người ta, lẽ ra th́ phải mềm mỏng, dịu dàng và phải bẽn lẽn một chút, Xuân Hương không thế, cái tôi dơng dạc xưng tên: "Này của Xuân Hương đă quệt rồi..."..."...Vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta dơng dạc: "Này của Xuân Hương". Rơ ràng là một sự thách thức táo bạo trước dư luận xă hội. Đă thế lại c̣n đóng dấu ấn cá nhân vào miếng trầu đưa cho người một cách rất ít mềm mỏng: "Này của Xuân Hương đă quệt rồi". Quệt cũng như têm thôi (têm  trầu), nhưng quệt tỏ ra suồng să hơn, bướng bỉnh và ngang ngược hơn, không muốn khiêm tốn một chút nào. "Có phải duyên nhau th́ thắm lại". Nhau tuy có giọng thân mật đấy nhưng hoàn toàn b́nh đẳng. Đến câu tiếp theo không c̣n là giọng mời chào nữa, mà là một lời mắng hẳn hoi. Mời ăn trầu mà cứ như mắng người ta, dù là mắng yêu đi nữa, th́ cũng chỉ có Xuân Hương thôi: "đừng xanh như lá bạc như vôi !"

Tác giả bài văn mẫu sợ người đọc chưa tiếp nhận được "phát kiến" mới của ḿnh trong việc giải mă câu cuối bài thơ, bèn tuyên bố một lần nữa, như muốn khép lại bài phân tích thơ một cách hùng hồn rằng :" "Đừng xanh như lá bạc như vôi". Đúng thế, mời mà như mắng người ta". Viết như thế, tác giả bài luận văn trên quả là không hiểu bài thơ "Mời trầu", một bài thơ trữ t́nh dịu dàng và t́nh cảm nhất của Hồ Xuân Hương. Từ "Mời trầu", tác giả bài văn mẫu đă chuyển hệ cho Hồ Xuân Hương sang kênh "mắng trầu", có thể biến nữ sĩ trở thành h́nh ảnh của kẻ vô duyên, bỗ bă, nhố nhăng? B́nh thơ như trên, phải chăng là mẫu mực của nghệ thuật giảng văn trong nhà trường trung học

 

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10-2-2001

T.M.H.

 

 

 

VĂN MẪU HAY VĂN DỎM ?

Trần Mạnh Hảo

 

Cuốn sách "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản nhiều lần với số lượng lớn vào các năm 2000, 2001, 2002 dành cho học sinh trung học học tủ đi thi, là tập bài văn mẫu của 4 tác giả: GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị, và Chu Văn Sơn; đây là cuốn sách c̣n khá nhiều điều chưa chuẩn xác phải đưa ra trao đổi, trong đó việc tung ra hàng trăm bài văn mẫu thế này có đúng phương pháp sư phạm không, có cản trở tinh thần độc lập suy nghĩ và khả năng sáng tạo của học sinh trong tiếp nhận thẩm mỹ văn chương không? Ở bài viết này, chúng tôi chỉ bàn tới bài văn mẫu từ trang 518 đến trang 522, với đề văn như sau: "Dựa vào những hiểu biết của ḿnh về con người sáng tác của Nguyễn Tuân, anh (chị) hăy phân tích miêu tả trên nét lớn cá tính phong cách nghệ thuật của nhà văn".

Đă gọi là bài văn mẫu, bài văn của các giáo sư và tiến sĩ hàng đầu ngành sư phạm vừa ra đề, vừa viết bài làm gương cho học sinh th́ dĩ nhiên phải hết sức mẫu mực. Đề văn như trên là một câu văn lủng củng, rườm rà, do ba lần lặp từ "của", ba lần lặp từ "". Chúng tôi xin sửa lại câu của đề bài trên cho trong sáng, bằng cách bỏ đi từ "của ḿnh", bỏ tiếp hai từ "", thay bằng một dấu phảy. Ta có một câu văn ra đề đúng tu từ tiếng Việt như sau: "Dựa vào những hiểu biết về con người và sáng tác của Nguyễn Tuân, anh (chị) hăy phân tích, miêu tả trên nét lớn cá tính, phong cách nghệ thuật của nhà văn ".

Mở đầu bài văn mẫu, tác giả viết: "Nguyễn Tuân bước vào nghề văn dường như là để minh hoạ cho hai câu thơ ngông của Nguyễn Công Trứ: "Trời đất cho ta một cái tài / Giắt lưng dành để tháng ngày chơi". Cuộc đời có ǵ nghiêm túc đâu mà phải nghiêm trang đạo mạo : hồi ấy, Nguyễn Tuân coi sống chỉ là cuộc dong chơi. Có điều thú chơi của ông là chơi tài, chơi nghệ thuật. Thực ra muốn chơi ngông, nhất thiết phải có tài. Bất tài mà chơi ngông, người ta gọi là ǵ ǵ đó chứ không gọi là ngông. V́ xét đến cùng, chơi ngông là đứng ở đỉnh cao của tài hoa và trí thức mà trêu ghẹo thiên hạ". (Những chữ nghiêng đậm trong bài do TMH nhấn mạnh). Chỉ một đoạn văn mở đầu bài văn mẫu viết về đời và văn Nguyễn Tuân đă có mấy cái sai không nhỏ. Cái sai thứ nhất là khi tác giả bài văn mẫu dám dạy học sinh quan niệm và lối sống hư vô chủ nghĩa, coi thường mọi chuẩn mực luân thường đạo lư của con người, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của giáo dục, của những chuẩn mực sư phạm mang tính chất nền tảng: "Cuộc đời có ǵ nghiêm túc đâu mà phải nghiêm trang đạo mạo". Việc dạy và học văn có nghiêm túc không, việc giáo dục cho hàng triệu con em thành những công dân có tài có đức, việc xây dựng cho chúng có lư tưởng, có ḷng tin vào chân lư, vào lẽ phải, có t́nh cảm kính yêu đối với Tổ Quốc, với cha mẹ, với đồng bào, khi cần dám hi sinh tính mạng để bảo vệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc và nhân loại đều là những vấn đề cực kỳ nghiêm túc cả. Thật là kinh ngạc, mượn chuyện văn mẫu để đưa ra kết luận phủ nhận mọi giá trị nhân văn, phủ nhận những nguyên lư căn bản làm nên xă hội loài người, coi "Cuộc đời có ǵ nghiêm túc đâu..." trước hết, tác giả chừng như muốn xoá sổ cơ sở của môn văn là học làm người-nhân học. Cái sai thứ hai là việc thẩm thơ của tác giả bài văn mẫu không chuẩn. Hai câu thơ dẫn trên không phải nói về cái ngông của Nguyễn Công Trứ. Nó bao hàm nhiều nghĩa, hoặc về thú tiêu dao, hay chí ít cũng bóng gió nói về việc vua chúa chưa có mắt xanh dùng người, hoặc diễn tả cái ung dung tự tại của một con người tự tin, khẳng định ḿnh hiện hữu giữa vũ trụ... Cái sai thứ ba của đoạn văn mẫu trên là việc tác giả cho: "Nguyễn Tuân bước vào nghề văn dường như là để minh hoạ cho hai câu thơ ngông ...". Hoá ra toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Tuân, một nhà văn được giải Hồ Chí Minh đợt đầu tiên chỉ gói trong một chữ "ngông" ư? Cái sai thứ tư của đoạn văn trên là việc tác giả bài văn mẫu đưa ra những định đề không chuẩn về chữ "ngông", chữ "chơi". Bảo Nguyễn Tuân "chơi nghệ thuật" c̣n có lư và có nghĩa chứ bảo ông "chơi tài" là chơi cái ǵ đây? Nguyễn Du dạy: "Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài". Văn cốt ở tâm trước, rồi mới đến tài sau. Bảo Nguyễn Tuân "chơi tài" vừa vô nghĩa vừa sai. Hoá ra cụ Tuân có tài không dùng làm việc ích nước lợi dân mà dùng để chơi, để duy tài chủ nghĩa bất kể chữ "tâm" ư? Tác giả bài văn mẫu c̣n định nghĩa về "ngông" rất lạ tai như sau: "Muốn chơi ngông, nhất thiết phải có tài". Trong đời sống xă hội, chán vạn ǵ những kẻ vô tài bất tướng vẫn tỏ ra ngông, ngông cuồng, ngông nghênh, ngông ngạo... đó sao? Tác giả bài văn mẫu quả t́nh không chịu khó truy t́m nghĩa chữ "ngông" trong tự điển và trong đời sống, nên định nghĩa về "ngông" hết sức sai: "Chơi ngông là đứng ở đỉnh cao của tài hoa và trí thức mà trêu ghẹo thiên hạ". Ở giữa bài văn mẫu, tác giả c̣n viết rất cảm tính, tuỳ tiện rằng: "Cái ngông xưa nay bao giờ cũng có cơ sở lư luận vững chắc của nó". Nhà ngông học này muốn đưa Nguyễn Tuân lên làm "ngông giáo chủ" chắc? Mở bài văn mẫu, tác giả đă lập ngôn và lập thuyết sai lạc đến mức đánh tráo mọi khái niệm thông thường, đẩy cuộc đời, sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân vào mấy chữ rất không xứng đáng, nếu như không nói là hạ thấp nhà văn xuống chỗ dung tục tầm thường theo công thức: Văn Nguyễn Tuân = ngông = không nghiêm túc = chơi tài = trêu ghẹo thiên hạ? (Chữ nghiêng đậm trong bài do THM nhấn mạnh).

 

Chưa hết, phần thân bài, tác giả văn mẫu c̣n "tương" vào văn nghiệp Nguyễn Tuân những món rất khó nghe của ḷng yêu mến, đến mức chúng tôi bàng hoàng, không c̣n dám tin vào những đánh giá như thế này là của một bài văn mẫu :"Vậy th́ văn Nguyễn Tuân là thứ văn chơi, văn đùa, cố t́nh khoe tài, khoe chữ một cách khinh bạc và gai góc để gây sự, trêu ghẹo người ta. Một lối văn suy tôn chính cái tôi ngông ngạo của ḿnh, và trở đi trở lại chỉ đem cái tôi ấy ra mà "độc tấu" giữa thiên hạ. Một thứ văn nghênh ngang và lan man, ng̣i bút cứ chạy theo những ḍng cảm nghĩ  lông bông, tài tử, với những liên tưởng ngẫu hứng tạt ngang hay cóc nhảy, lắm lúc muốn đưa người ta vào những bát quái trận đồ. Một cách lựa chọn đề tài cố t́nh coi khinh những ǵ người đời cho là quan trọngđề lên rất cao, thậm chí thiêng liêng hoá những ǵ người đời cho là tầm thường xoàng xĩnh như cái ăn uống...". Với những "đặc tính" văn Nguyễn Tuân do tác giả bài văn mẫu tung ra ào ạt trên, cộng cả trước và sau, ta có một hằng thức về Nguyễn Tuân và văn chương của ông dễ sợ như sau:

Văn Nguyễn Tuân = ngông = không nghiêm túc = chơi tài = trêu ghẹo thiên hạ = văn chơi = văn đùa = khoe tài = khoe chữ = khinh bạc = gây sự = ghẹo người ta = suy tôn cái tôi = ngông ngạo = nghênh ngang = lan man = lông bông = tài tử = coi khinh những ǵ quan trọng = thiêng liêng hoá những tầm thường, xoàng xĩnh ...

Ném vào văn nghiệp đồ sộ của Nguyễn Tuân bằng ấy "món" rác rưởi trên là ca ngợi hay phủ nhận ông? Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, người được giải thưởng Hồ Chí Minh lần đầu, lẽ nào lại "bị dạy", "bị đề cao" như trên? Sau khi "ném" toàn bộ văn nghiệp lớn lao của Nguyễn Tuân vào băi thải của những ngôn từ kinh hăi trên, tác giả bài văn mẫu ở phần kết lại coi ông là "định nghĩa chuẩn mực về người nghệ sĩ", một định nghĩa về nghề văn, một tấm gương soi cho tất cả các nhà văn, theo kiểu "Sự có mặt của Nguyễn Tuân trên đời làm ta cảm thấy nghề văn cũng sang trọng lắm chứ" th́ quá lạ lùng!

Một bài viết hết sức thiếu trách nhiệm về Nguyễn Tuân trên sao có thể là một bài văn mẫu? Thảo nào, tác giả ngay từ đầu đă nêu gương cho học sinh bằng một kết luận phi giáo dục của ḿnh rằng: "Cuộc đời có ǵ nghiêm túc đâu...". Chính tác giả đă thể hiện định nghĩa trên bằng bài b́nh văn Nguyễn Tuân một cách hết sức thiếu nghiêm túc, mà lại là văn mẫu để học tṛ học thuộc ḷng đi thi tốt nghiệp trung học hay thi vào đại học. Viết bài báo này, chúng tôi xin lần thứ một trăm báo động với dư luận xă hội rằng: ai, những ai là người có trách nhiệm để sách vở của ngành giáo dục xảy ra những hiện tượng thiếu nghiêm túc một cách hệ thống này măi như vậy?

 

 

 

MỤC ĐÍCH DUY NHẤT CỦA HỌC VĂN: ĐỂ LÀM BÀI TẬP, ĐỂ THI?

Trần Mạnh Hảo

 

Trong cuốn: "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang, NXB Đại học quốc gia Hà Nội tái bản số lượng lớn năm 2000 - tập văn mẫu của GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị, Chu Văn Sơn, trong "Lời nói đầu" của người chủ biên, có đoạn viết: "Hiện nay trong phạm vi nhà trường, để đánh giá tŕnh độ học văn của các em, Nhà nước hầu như chỉ có một phương thức duy nhất là yêu cầu viết một bài văn theo một đề bài nhất định (tất nhiên trong giới hạn của chương tŕnh môn học). Như vậy, viết được một bài văn có chất lượng, ấy là năng lực có ư nghĩa quyết định nhất đối với các em trên con đường tiến lên từ lớp này qua lớp khác, đặc biệt là qua các kỳ thi hết cấp và tuyển sinh đại học - nói riêng về môn văn ".

 Đọc qua đoạn trích trên, tưởng như không c̣n ǵ để bàn, nếu không gắn nó với mục tiêu cuốn "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" được ghi rơ trên b́a lót: "Dành cho lớp 10 - 11 - 12 . Ôn thi tốt nghiệp phổ thông trung học và đại học". Cuốn sách này do các tác giả trên là giáo sư, là tiến sĩ ra tới 217 đề văn, cũng chính các vị này làm bài văn mẫu. Trên mỗi bài văn mẫu có ghi "Bài văn tham khảo". Nhưng trên cái gọi là tham khảo này lại ghi rành rành là "bài học". Khi những bài văn tham khảo viết ra để dùng làm "bài học" cho học sinh học thi tốt nghiệp phổ thông trung học và đại học, th́ đích thị nó là những bài văn mẫu rồi. Hiện nay, ngoài cuốn văn mẫu này, c̣n hàng chục cuốn văn mẫu khác do NXB Giáo Dục, NXB ĐHQG Hà Nội và một vài NXB khác ấn hành. Những sách loại này bày bán khắp nơi, khiến học sinh mắc vào hội chứng loạn chuẩn: cùng một đề tài, một bài văn, mỗi sách giảng một khác, mỗi mẫu mỗi khác, khiến các em không biết đâu là thật giả. Nhưng vấn đề then chốt nằm ở phần vừa dẫn trên: mục đích dạy và học văn có phải chỉ để làm bài thi chăng?

Có thật "...Để đánh giá tŕnh độ học văn của các em, Nhà nước hầu như chỉ có một phương thức duy nhất là yêu cầu viết một bài văn theo một đề bài nhất định" như tác giả Nguyễn Đăng Mạnh viết? Do vậy, chỉ cần học tủ, học vẹt, học để đối phó với thi cử, học cốt kiếm bằng cấp là đủ sao? Không, nghiệm thu của Nhà nước và của phụ huynh học sinh với việc học văn của con em ḿnh đâu phải chỉ đơn giản thông qua "một phương thức duy nhất" là ở kết quả bài kiểm tra hoặc bài thi? Nhà nước và nhân dân nghiệm thu môn văn nơi con em ḿnh thông qua giáo dục văn học ở nhà trường là nghiệm thu người, nghiệm thu tư tưởng, t́nh cảm thẩm mỹ, phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học, t́nh yêu với ông cha, với đất nước  của các em. Nghĩa là học văn, rốt ráo là học làm người. Văn học là nhân học, văn là người, là tư tưởng t́nh cảm, tâm hồn dân tộc trong cái đẹp vô cùng của tiếng Việt. Một học sinh không được giáo dục thẩm mỹ văn học không thể có cơ sở tiếp nhận được thẩm mỹ văn hoá. Một con người không biết yêu tiếng mẹ đẻ, không biết cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ trong văn học dân tộc ḿnh, con người đó khó có thể có ḷng yêu nước. Người Việt Nam ngay từ thuở lọt ḷng đă được mẹ dạy văn một cách gián tiếp, một cách trực giác, bản năng là lời hát ru bằng những vần ca dao, giọng  ḥ,  điệu chèo, điệu lư, quan họ dân ca tuyệt mỹ. Rồi nhà trường tiếp tục truyền đạt vào tư tưởng t́nh cảm học sinh vẻ đẹp ngàn đời của tâm hồn dân tộc qua Nguyễn Trăi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... T́nh yêu Tổ Quốc của các em khởi đầu bằng văn học, từ văn học. T́nh yêu ấy cao hơn mọi bài luận, bài thi. T́nh cảm và tư tưởng thẩm mỹ ấy tạo nên nhân cách con người học sinh chính là mục đích cao cả của việc dạy và học văn trong nhà trường vậy .

Việc dạy văn chỉ cốt giúp các em "Viết được một bài văn có chất lượng", coi đó là "năng lực có ư nghĩa quyết định nhất với các em" như tác giả phần trích dẫn trên khẳng định quả t́nh đang là vấn nạn lớn của việc học văn. Đó là ḍng thác lũ "văn mẫu" dùng đối phó, cốt thi, cốt lấy bằng chứ không phải học văn để bồi dưỡng tâm hồn tư tưởng, nhân cách, lối sống cho học sinh, giúp học sinh trở thành con người chân chính có ích cho cộng đồng dân tộc. Tất nhiên, việc kiểm tra bài tập làm văn, hoặc viết bài luận văn thi tốt nghiệp của học sinh, sinh viên là việc quan trọng, phản ánh tŕnh độ học văn trong nhà trường của các em; nhưng không phải là "phương thức duy nhất" để "Nhà nước đánh giá tŕnh độ học văn của các em" như tác giả phần "Lơi mở đầu" của cuốn văn mẫu này kết luận.

Yêu cầu của nhà nước và nhân dân với việc dạy và học văn cao hơn nhiều những bài kiểm tra, bài thi đang bị các thứ "văn mẫu" kia che phủ hết  hồn vía môn văn là khả năng độc lập sáng tạo trong tiếp nhận thẩm mỹ văn học của học sinh. Ngay cả "Truyện Kiều", một thiên lục bát tuyệt vời nhất của văn học dân tộc, nhưng đă có ai dám hô lên rằng đây là thơ mẫu chưa? Viết văn hay như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Tuân... mà đă ai dám bảo tác phẩm của họ là những áng văn mẫu? Thế mà, một số vị giáo sư, tiến sĩ tự ḿnh ra đề, tự ḿnh làm bài văn cho học sinh học gạo, học tủ, học vẹt một thứ văn mẫu không có văn, th́ mục đích dạy văn và học văn đă bị sai lạc hoàn toàn rồi vậy.,.

 

 

 

"VĂN MẪU" THỜI NAY VÀ NHỮNG KHÁI QUÁT VĂN HỌC THIẾU GƯƠNG MẪU

Trần Mạnh Hảo

 

Mấy năm gần đây, ở ngành giáo dục, trong chương tŕnh giảng dạy văn học, rộ lên phong trào các thầy, các giáo sư, các tiến sĩ tung ra hàng chục cuốn "văn mẫu" dành cho học sinh trung học học gạo, học tủ để đi thi tốt nghiệp phổ thông và thi đại học. Chính một số vị giáo sư, tiến sĩ tự ra đề văn, tự ḿnh viết bài văn mẫu, dù có ghi là tham khảo nhưng vẫn thấy đề trên từng bài là "bài học". Những bài văn do các thầy nổi tiếng với học hàm giáo sư, học vị tiến sĩ viết ra để thành bài học cho học sinh đi thi th́ đích thị là những bài văn mẫu rồi. Đưa ra văn mẫu có phải là một phương pháp sư phạm hợp lư chăng? Hay nó che lấp mất mọi khả năng sáng tạo độc lập của học sinh trong tiếp nhận thẩm mỹ văn học, không cho các em t́m kiếm lối viết văn riêng của ḿnh? Dạy văn học mà t́m cách lấp hết lối sáng tạo của học sinh th́ c̣n ǵ văn chương nữa ? Một trong những cuốn văn mẫu vừa được NXB Đại học quốc gia Hà Nội tái bản năm 2000 với số lượng lớn, dày 627 trang: "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" của các vị: GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị, Chu Văn Sơn. Trên một số tờ báo, chúng tôi đă phê b́nh từng bài văn mẫu không làm gương trong hành văn, trong nghệ thuật tu từ, trong ngữ pháp, trong những kết luận sai sót nơi cuốn sách trên. Nay chúng tôi xin nêu ra những bất cập của bài văn mẫu "Ôn tập môn văn học Việt Nam cuối lớp 10" in từ trang 130 đến trang 137 sách đă dẫn . Đề văn như sau: "Truyền thống nhân đạo chủ nghĩa của văn học Việt Nam đă phát triển thành một trào lưu mạnh mẽ với nhiều thành tựu rực rỡ vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII và nửa đầu thế kỷ thứ XIX. Em hăy giải thích và chứng minh hiện tượng trên dựa vào những điều đă được học về thời đại và về sáng tác của Phạm Thái, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du".

Câu thứ nhất của đề văn trên c̣n có điều không ổn: "Truyền thống nhân đạo chủ nghĩa của văn học Việt Nam...". Phải bỏ đi từ "chủ nghĩa" th́ mệnh đề trên mới chính xác. Truyền thống nhân đạo, thương người vốn dĩ là một chủ đề lớn vào bậc nhất của văn học Việt Nam từ văn chương b́nh dân đến văn chương bác học. C̣n chủ nghĩa nhân đạo (Humanism), hay chủ nghĩa nhân văn là một khái niệm mang tính hệ thống đặc thù phương Tây thời Phục Hưng từ thế kỷ thứ XIV-XVI, đ̣i giải phóng tư tưởng và t́nh cảm con người thoát khỏi ràng buộc của thời phong kiến, thoát khỏi sự nô lệ vào định mệnh thần quyền Thiên Chúa giáo. Văn học phương Đông và văn học Việt Nam xưa  hoàn toàn không có khái niệm về chủ nghĩa nhân đạo, chỉ có truyền thống nhân đạo mà thôi. Do đó việc áp đặt khái niệm chủ nghĩa nhân đạo lên thời kỳ rực rỡ nhất của văn học Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ XVIII - đầu thế kỷ thứ XIX như đề văn trên là không đúng. Câu thứ 2 của đề văn trên c̣n phải bỏ đi hai lần từ "và", thay bằng hai dấu phảy mới khỏi bị rườm rà, lủng củng. Đă viết văn mẫu cho học sinh học th́ trước nhất tác giả phải làm gương từ chuyện hành văn, việc giữ cho câu văn đúng ngữ pháp. Xin lấy một ví dụ ở trang 133 về câu văn thiếu chủ ngữ: "Nhưng qui mô và toàn diện hơn cả là bản án Kim Vân Kiều truyện của Nguyễn Du". Cái ǵ "qui mô và toàn diện hơn cả "?

Tác giả bài văn mẫu này quả t́nh đă hiểu rất sai tinh thần thi ca Hồ Xuân Hương khi viết: "...Hồ Xuân Hương tài hoa và ngỗ ngược". Hồ Xuân Hương "tài hoa" th́ không ai căi; nhưng khi bảo bà "Ngỗ ngược" phải chăng là muốn ca ngợi bà? Qua thi ca, ta biết Hồ Xuân Hương bề nổi có vẻ như là một người đàn bà có cá tính mạnh, hay cười cợt, châm chọc thói hư tật xấu thiên hạ. Nhưng bên trong thực chất Hồ Xuân Hương là một người phụ nữ đau khổ, cô đơn tột cùng không chỉ trong khát vọng về hạnh phúc lứa đôi. Bà cười nấc lên thành tiếng khóc thi ca. Bảo bà "ngỗ ngược" như bài văn mẫu dạy học sinh trên tức là bảo bà không coi ai ra ǵ, bất chấp phải trái, hỗn hào, gàn bướng, vô giáo dục như một mụ diều tha, quạ mổ, mất hết nữ tính, nhân tính. Trước khi dẫn bài thơ "Mời trầu" là bài thơ thể hiện sự dịu dàng nhất, trữ t́nh nhất, khiêm nhường, tha thiết, cô đơn nhất của bà, tác giả bài văn mẫu không chỉ hiểu sai hoàn toàn tinh thần bài thơ, mà c̣n tiếp tục thoá mạ "bà chúa thơ Nôm" như sau: "Đường hoàng khẳng định cá tính ngang ngược của ḿnh như một thách thức đối với xă hội phong kiến". Một thi hào dân tộc, một người đàn bà cười ra nước mắt bằng thơ như Hồ Xuân Hương, sao lại bị tác giả bài "văn mẫu" thoá mạ đến nỗi phong cho cá tính bà là "ngang ngược" một cách ngang nhiên như thế? Hồ Xuân Hương - người đàn bà cao sang bậc nhất thi đàn Việt Nam chứ phải đâu  là quân trốn chúa lộn chồng, du côn du đăng mà gán cho bà là "ngỗ ngược", "ngang ngược" như bài văn mẫu kia?

Có lẽ các tác giả cuốn văn mẫu không hiểu nổi thơ Hồ Xuân Hương nên mới xúc phạm đến bà cỡ đó. Ai là người từng đọc bài "Đền Sầm Nghi Đống" cũng biết là Hồ Xuân Hương chửi xỏ tên tướng giặc xâm lăng. Nhưng tác giả bài văn mẫu này không hiểu ra được điều đơn giản ấy, lại đưa ra một câu b́nh sai hết tinh thần bài thơ: "Đối lập với quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ, nữ sĩ đặt ḿnh không phải ngang hàng, mà lên trên những đấng nam nhi". Hồ Xuân Hương có thèm coi tên tướng giặc xâm lăng kia là "đấng nam nhi" đâu mà so sánh "ngang hàng" trên dưới với hắn. Đấy là bà chửi xéo, nói mỉa, diễu cợt cái chí "làm trai" của các vị bại tướng xâm lăng: "Ví đây đổi phận làm trai được / Th́ sự anh hùng há bấy nhiêu ". Rằng "làm trai" ǵ lũ mày, "anh hùng" ǵ lũ mày (!) Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi Đống chỉ huy kéo sang đây cướp nước bị vua Quang Trung đánh cho tan tác, chạy thục mạng, bị giết cả đại tướng, c̣n "anh hùng" nỗi ǵ, "nam nhi" nỗi ǵ để Hồ Xuân Hương thi tài cao thấp? Thi ca có nghĩa bóng, nghĩa đen, dẫu có lúc nói vậy mà không phải vậy. Phân tích thơ mà không biết t́m ư nghĩa bên trong của h́nh tượng thơ, dẫn đến sự hiểu sai như trên th́ quả là tai hại.

Chúng ta đều biết chế độ phong kiến Việt Nam h́nh thành từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập dân tộc, kéo dài suốt Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê, Mạc, Lê Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn, cho tới khi Pháp xâm lược, hay nói cho chính xác đến năm 1945. Các triều đại phong kiến Việt Nam lúc thịnh suy khác nhau, nhưng triều đại nào hầu như cũng có công lớn với đất nước trong việc giành và giữ độc lập dân tộc, tuy cũng có khi suy thoái gây nhiều khổ đau cho nhân dân, gây nội chiến nhồi da xáo thịt như cuộc chiến Lê- Mạc, Trịnh- Nguyễn. Các anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lư Công Uẩn, Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Trăi, Quang Trung, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Hoa Thám, Phan Đ́nh Phùng...đều mang hệ tư tưởng phong kiến. Các thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm tới Tú Xương, Nguyễn Khuyến cũng đều do hệ tư tưởng phong kiến sinh ra. Phong kiến Việt Nam kéo dài cả ngh́n năm chính là ông cha, là lịch sử là văn hoá dân tộc. Tất nhiên, ư thức hệ phong kiến c̣n nhiều hạn chế nếu dùng thế giới quan hiện đại hôm nay để đánh giá. Nhưng chúng ta phải nh́n nền chính trị phong kiến Việt Nam bằng cái nh́n duy vật lịch sử, nghĩa là cần phải khách quan, phải gắn với tinh thần khoa học, không áp đặt quan niệm hôm nay vào ngày qua, không chụp mũ lịch sử, vơ đũa cả nắm. Tinh thần gạn đục khơi trong chính là tinh thần nhân đạo Việt Nam truyền lại từ thời ông cha, từ thời phong kiến: "Thân tàn gạn đục khơi trong / Là nhờ quân tử khác ḷng người ta" (Kiều). Cho nên, khi đánh giá lịch sử, chúng ta cũng nên học theo tinh thần câu Kiều này để mang khí chất "quân tử khác ḷng người ta" mà "gạn đục khơi trong" quá khứ .

Chúng tôi xin trích ra đây những khái quát vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn hết cả ngh́n năm văn hiến cha ông thời phong kiến của bài văn mẫu này như sau: "Cái gọi là tam cương, ngũ thường của đạo lư phong kiến, lâu nay vẫn chi phối tinh thần của con người, chỉ là giả dối, là trái với tự nhiên và ḷng người"... "...Đánh vỗ mặt vào những "hiền nhân quân tử " vốn là linh hồn và bộ mặt cao đạo của chế độ phong kiến, vạch trần bản chất dốt nát và đạo đức giả của chúng..."..."Chế độ phong kiến đă trở nên hết sức thối nát và tàn bạo..."... Tuy có những hạn chế lịch sử về thế giới quan và nhân sinh quan Nho giáo ví như coi thường phụ nữ, trọng cổ hơn kim, trung quân mù quáng... nhưng những thành tựu lớn nhất của 10 thế kỷ phong kiến Việt Nam là giành và giữ được đất nước, trừ nhà Nguyễn để mất nước vào tay quân Pháp. Cha ông ta đă nêu cao đạo lư yêu nước thương ṇi, lấy dân làm gốc, xây dựng nên nền văn hoá Việt Nam rất đỗi rực rỡ, tự hào, sinh ra hàng loạt anh hùng và thi sĩ ...là những mặt tích cực không thể phủ nhận. Không, đạo lư phong kiến của ông cha ngh́n năm vẫn dạy làm người phải giữ : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, "thương người như thể thương thân", "bầu ơi thương lấy bí cùng" là hết sức nhân bản, đâu có "giả dối", có "trái với tự nhiên", "tàn bạo, dốt nát", "đạo đức giả" như bài văn mẫu này chụp mũ .

Nếu với những áp đặt phi khoa học, lên án thậm tệ ư thức hệ phong kiến, phủ nhận tất cả những mặt tích cực của ông cha như thế, thử hỏi làm sao "giữ ǵn và phát huy bản sắc dân tộc" như nghị quyết Trung Ương từng chỉ ra, làm sao dạy đúng được tinh thần nhân văn thơ Lư Trần, Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ ...?

 

T.M.H.

 

 

 

NHÂN BÀN VỀ CUỐN VĂN MẪU "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN"

NGHĨ THÊM VỀ VIỆC SOẠN LẠI BỘ SÁCH GIÁO KHOA VĂN

Trần Mạnh Hảo

 

Suốt nhiều năm ṛng dư luận xă hội thể hiện qua các lần họp quốc hội, rồi báo chí đă viết hàng trăm bài vạch ra hệ thống sai lầm của bộ sách giáo khoa từ tiểu học đến trung học. Đến nỗi năm qua Bộ Giáo Dục phải làm một cuộc chỉnh lư hợp nhất lại mấy bộ sách giáo khoa, trong đó có sách giáo khoa văn trung học. Tuy nhiên, khi bộ sách chỉnh lư hợp nhất in ra lại bị dư luận phê phán trên các phương tiện thông tin đại chúng và ở lần họp quốc hội vừa qua v́ SGK vẫn thiếu chuẩn mực. Chính v́ v&