BỘ
GD&ĐT VIỆT
Trần
Mạnh Hảo
Lời thưa:
Vừa rồi GS.Nguyễn Đăng Mạnh vừa tung
lên Internet nhiều chương trích trong cuốn hồi kư
của ông, trong đó ông mạ lị chúng tôi (TMH) là “lưu
manh, đầu gấu văn học”. GS. Mạnh c̣n ví ḿnh
với Chúa Jêsu bị môn đồ phản bội. Hơn
30 năm nay, GS. Mạnh là vị GS số 1 của
Đại học Sư phạm từ Vinh đến Hà
Nội, cũng như là vị tiên chỉ của Bộ
GD&ĐT trong lĩnh vực dạy văn. Ông cũng là
vị chủ biên SGK Văn trung học phổ thông, trung
học cơ sở lâu năm nhất và viết nhiều
giáo tŕnh đại học để các nghiên cứu sinh
văn học làm luận án tiến sĩ. Việc học
sinh Việt Nam hiện nay vô cùng sợ, thậm chí căm
ghét môn văn là dấu hiệu suy vong của dân tộc.
Thiết tưởng, với hậu quả “diệt
chủng môn văn” trong nhà trường này, GS. Nguyễn
Đăng Mạnh không thể phủi tay để
đổ lỗi cho người khác, trong khi chính GS đă
góp phần rất “tích cực” để giết chết
môn văn. Trước khi tung lên Internet 20 bài phê b́nh các bài
viết bài giảng của GS. Mạnh, chúng tôi xin gửi
tới quư báo mạng và quư bạn đọc chùm bài phê b́nh
“văn mẫu” của nhóm GS. Nguyễn Đăng Mạnh:
Đỗ Ngọc Thống, Hà B́nh Trị, Chu Văn Sơn
là những vị GS, TS đang tham gia soạn SGK văn trung
học của Bộ GD&ĐT, giữ cương vị
phụ trách môn văn của Bộ và kiêm nghề dạy
văn trên Đài truyền h́nh Việt
QUỐC NẠN "VĂN MẪU":
SOS (!)
Trần Mạnh Hảo
"Trời đă sinh ra người
mẫu để tŕnh diễn thời trang, để làm
đẹp các trang báo, các tấm lịch và làm vui mắt
cuộc đời, sao trời c̣n báo hại gia đ́nh tôi
sinh ra hàng chục tập "Bài văn mẫu " trong nhà
trường làm thui chột hết văn phong lớp
trẻ!". Đấy là lời ông bạn tôi một sáng
trước tết tại nhà ông, khi chúng tôi cùng nhâm nhi phin
cà phê Ban mê Thuột bàn chuyện trên trời dưới
biển như thường lệ. Ông bạn tôi c̣n chưa
chịu nguôi ngoai về chuyện "Văn mẫu",
tiếp tục than văn, vân vi.
Rằng ông
có ba đứa con, thằng lớn hiện đang học
luật ở Úc, đứa thứ hai học đại
học kiến trúc Sài G̣n và đứa thứ ba là gái
đang học lớp 12, đều là học sinh giỏi
văn trong nhà trường cả. Là dân văn
chương, nên ông rất đau khổ khi thằng
lớn từ Úc viết bao nhiêu thư về thăm gia
đ́nh mà thư nào cũng sai từ chính tả sai đi.
Ông bảo thật xấu hổ, bác là bạn thân tôi
mới dám nói, 26 tuổi sắp thành luật sư rồi
mà thằng lớn nhà tôi viết lá thư nào về câu cú
cũng quá lủng củng, từ ngữ Tiếng Việt
dùng sai bét, dấu chấm, dấu phảy đánh lung tung
canh hẹ. C̣n thằng thứ nh́ vừa rồi làm dùm
mẹ nó mấy cái công văn, mấy cái thư kêu gọi
đầu tư đầu túi ǵ đó khiến bà nhà tôi
phải nhờ tôi viết lại. Nghĩa là, chúng không
biết viết một câu văn Tiếng Việt cho ra
hồn, không biết cách diễn đạt ư ḿnh sao cho khúc
chiết, giản dị, trong sáng, dù chỉ là những văn
bản đơn sơ nhất. C̣n con bé lớp 12,
chiều mới đi học nhưng bác nghe nó đang
học thuộc ḷng văn mẫu chưa? Đấy, ra
rả như ve sầu tháng hạ, điếc tai bố
mẹ và hàng xóm v́ "văn mẫu". Không biết cô
giáo hay bạn bè nào xui mà nó về khoe với tôi rằng
cứ học thuộc ḷng
cuốn "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" này, đảm
bảo thi đâu trúng đó. Tôi bảo thế nào cháu
cũng không nghe. Nó bảo bố không biết đâu, năm
sáu năm nay, nhờ cuốn cẩm nang "VĂN
MẪU" này mà học tṛ thi tốt nghiệp 12 môn văn
đậu ráo, thi vào sư phạm văn, tổng hợp
văn, trúng bóc hết, giờ toàn học tủ không à
bố ơi. Nó c̣n bảo cuốn văn mẫu số
một này toàn những giáo sư, những ông lớn ra
đề thi của Bộ viết không à ...
Bạn tôi lôi ra để trên bàn hơn
một chục cuốn "Bài văn mẫu" dành cho
lớp 10,11,12, cuốn nào cũng dày cộp với
đủ thứ tên mỹ miều đầy tính
thương mại thu hút học sinh rằng thi đâu trúng
đó. Tôi đếm sơ sơ cũng đă hơn
một ngh́n bài "văn mẫu" đa số do NXB Giáo
Dục, NXB Đại học quốc gia Hà Nội xuất
bản. Tôi hỏi ông bạn viết văn của tôi rằng
ông đă thử ngó qua những bài "văn mẫu"
này chưa? Ông méo mặt lắc đầu: rồi, khổ
lắm, mẫu với chả miếc, hầu như
chẳng bài nào viết có văn, lại có nhiều bài sai
cả ngữ pháp, lỗi hành văn đầy như
viết lủng củng, dây cà ra dây muống, trùng lặp
th́ là mà, kiến thức th́ có bài sai bài đúng, không c̣n ra làm
sao. Bạn xếp cả một đống "văn
mẫu " vào cái bị cói, đoạn nhét vào tay tôi
bảo trăm sự nhờ bác, hăy ra tay cứu con em chúng
ta một lần nữa đi, tôi khổ v́ ba đứa
con nhiễm thói "văn mẫu" không c̣n dạy chúng
viết lại câu văn Tiếng Việt cho đúng cho hay
nữa rồi. Tôi hơi hoảng, chưa biết ất
giáp ǵ. Bạn tôi vẫn c̣n khổ thân chưa hết méo mặt,
nói như van nài: rằng, bác mang về đi, mang về mà
viết phê b́nh, viết hẳn một tập sách chỉ ra
những cái sai về nhận thức, về phương
pháp luận, về kiến thức, về văn phong dây cà
dây muống này rồi in thành sách mà báo động cho cả
nước rằng, các cụ ơi, các đồng chí
ơi, các bác ơi, các người ơi, hết nạn
sách giáo khoa văn bị quốc hội và báo chí phê phán,
giờ đến nạn "văn mẫu" đang tàn
phá tâm hồn con em chúng ta. Có như thế, mới làm dư
luận xă hội thức tỉnh mà lên án nạn
"văn mẫu" đang hoành hành theo cách bán bài
mẫu, bán bài tủ kiếm tiền của những
người nào đó ...Nhưng tôi khuyên bạn tôi
để cho cháu gái, của các anh nó và của nó cơ mà,
lấy đi liệu có làm cháu sốc không? Ông bạn
bảo tôi cấm hết. Nó nói nếu bố cấm,
chỉ cấm mười một cuốn kia thôi, c̣n
nếu cấm cả cuốn "217 đề và bài
văn" này mà thi tốt nghiệp 12 tới, con
trượt môn văn, bố chịu trách nhiệm
đấy. Tôi sợ quá xuống thang, chỉ để
lại cho cháu riêng cuốn tủ này thôi, c̣n bác cầm
cả đi. Tôi xách cái bị "văn mẫu"
đứng lên ra về. Tới cổng, bạn bảo, có
đủ các sách "văn mẫu" cho bác đấy,
chiều qua tôi đi mua được cả cuốn
"217 đề và bài văn" cho bác, ráo cả một
bị đầy nhá, thương các cháu mà bác phải phê
b́nh đi, làm một cuốn sách dày ba trăm trang ví dụ
như "vấn nạn văn mẫu "chẳng
hạn, hoặc "văn mẫu đang giết
văn", hoặc "Văn mẫu ơi chào mi"....
Nể ông bạn, thương các cháu
bị các bài "văn mẫu" lấp hết
đường sáng tạo trong việc học văn,
biến sự học thành học tủ, học gạo,
học đối phó, học để thi. Tôi về nhà,
bỏ ra đúng 20 ngày vừa đọc vừa ghi chép
mới hết một bị "văn mẫu" quư hoá
này mà bàng hoàng cả người, không c̣n tin vào mắt ḿnh
nữa.. Người xưa có câu "Tí tiểu tu
cần học / Văn chương khả lập thân".
Chế Lan Viên viết: "Nguyễn Du viết Kiều
đất nước hoá thành văn". Dạy
văn, học văn trong nhà trường là một truyền
thống nhân văn lớn của dân tộc. Văn học
là nhân học. Học văn trước hết là cách
tốt nhất để học làm ngưới. Dạy
văn do đó là một việc rất hệ trọng,
thiêng liêng, nhằm truyền cho học sinh ư thức, tư
tưởng, t́nh cảm thẩm mỹ của tâm hồn
ông cha, giúp các em yêu Tổ Quốc ḿnh trước hết
bằng cách yêu tiếng Việt, yêu thơ văn ông cha.
Dạy văn, cốt yếu là hướng cho các em
biết cách độc lập , sáng tạo trong tiếp
nhận thẩm mỹ. Đưa ra những bài "Văn
mẫu" không hề mẫu mực trong cách viết, không
có văn chính là tiêu diệt khả năng sáng tạo
thẩm mỹ văn học của học sinh vậy.
Hội chứng “văn mẫu" là một vấn
nạn xă hội lớn đang kêu cứu SOS !
CÓ THẬT: "VĂN CHƯƠNG LÀ
VẬT VÔ TRI" ? HAY MỘT BÀI VĂN
MẪU QUÁ KÉM CỎI
Trần Mạnh Hảo
Kết luận làm sửng sốt
mọi người trích trên đầu đề bài này
không phải là của người viết mà lấy ở
trang 99, ḍng 1, cuốn văn mẫu dành cho học sinh trung
học: "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang của
đồng tác giả gồm bốn vị sau: G S.
Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên ), T S. Đỗ
Ngọc Thống, T S. Hà B́nh Trị và Chu Văn Sơn. Nguyên
câu văn được trích như sau: "Văn
chương là vật vô tri làm ǵ có số mệnh,
định mệnh. Ấy vậy mà đối với
Nguyễn Du, văn chương cũng có mệnh, cũng
biết vương vấn, cũng biết "lụy"
trước những nỗi oan khuất của kẻ tài
hoa". Hai câu văn trích này lấy từ bài phân tích bài
thơ "Độc Tiểu Thanh kư" của
Nguyễn Du từ trang 93 đến trang 103 của cuốn
sách đă dẫn, do NXB đại học quốc gia Hà
Nội ấn hành năm 2000. Mặc dù ngoài b́a chính và b́a
phụ chỉ ghi bốn vị trên là tác giả cuốn
sách: do các vị ra đề, các vị tự làm bài văn
mẫu. Nhưng trong ruột sách, có đến 10% bài văn
mẫu do những người khác viết, nhưng
những người này không được đứng tên
là đồng tác giả (?). Bài văn mẫu phân tích "Độc
Tiểu Thanh kư" có ghi ở cuối rằng: "Bài
của Nguyễn Nhật Huy (có sửa chữa chút ít). Dù
bài văn mẫu này do Nguyễn Nhật Huy viết,
nhưng đă được bốn vị đồng tác
giả trên sửa chữa, thông qua, cũng có nghĩa là,
quan điểm nghệ thuật trong bài văn không c̣n
của riêng ông Nhật Huy nữa mà c̣n là của các tác
giả ghi trên b́a sách. Đây mới là vấn đề
chính yếu để chúng tôi bàn về kết luận quá
lạ tai trên .
Hai câu thơ "Chi phấn hữu
thần liên tử hậu / Văn chương vô mệnh
lụy phần dư" trong bài "Độc
Tiểu Thanh kư" được dịch nghĩa không
mấy thống nhất ở nhiều bản dịch khác
nhau. Chúng tôi cho rằng lối dịch của nhà Kiều
học Nguyễn Quảng Tuân có lư hơn cả, nên theo ông,
viết lại như sau: "Bức chân dung có thần
bị đốt mất, khiến đời sau ai cũng
cảm thương cho nàng / Văn chương của nàng
không có mệnh đă được nàng đốt hết,
chỉ c̣n phần dư cũng bị người vợ
cả đốt mất". ("T́m hiểu Nguyễn
Du và Truyện Kiều"-Nguyễn Quảng Tuân - NXB KHXH...
2000, tr 93). Nguyễn Du nhân đọc cuốn truyện nàng
Tiểu Thanh mà viết nên bài thơ trên. Nàng Tiểu Thanh tài
sắc vẹn toàn, lấy lẽ người họ Phùng,
bị vợ cả ghen tuông hành hạ bắt ở một
ḿnh trên núi Cô Sơn, đến nỗi buồn mà chết
lúc mới 18 tuổi. Trước khi chết, nàng đă
đốt hết tập thơ của ḿnh, c̣n sót phần
dư cũng bị người vợ cả đốt
mất. Người vợ cả c̣n đốt cả
bức truyền thần của nàng để lại
mới thôi. Nay chúng tôi chỉ bàn qua về lối phân tích
bài thơ của các tác giả trong bài văn mẫu đă
dẫn. Khi bài văn mẫu viết: "Văn
chương là vật vô tri, làm ǵ có số mệnh,
định mệnh" chắc tác giả suy ra
từ câu thơ "Văn chương vô mệnh
lụy phần dư"? Tác giả tưởng
rằng Nguyễn Du khái quát chung là "Văn chương
vô mệnh" nên nhân thể cũng kết luận
rằng "Văn chương là vật vô tri".
"Độc Tiểu Thanh kư" là bài thơ chữ
Hán rất hay và rất sâu đằm, đa ngữ nghĩa
của Nguyễn Du. Đầu đề bài thơ phải
dịch là "Đọc bài kư truyện nàng Tiểu
Thanh" mới sát nghĩa. Nên khái niệm văn
chương trong câu thơ trên phải hiểu rằng
văn chương của nàng Tiểu Thanh chứ
Nguyễn Du không đến mức ngô nghê mà khái quát chung rằng
"văn chương vô mệnh" như
người viết bài văn mẫu này hiểu.
Con người dù mất đi, nhưng
những giá trị tinh thần bất hủ của nó
được gởi trong những áng văn chương
thiên tài như trước tác của Nguyễn Trăi,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương ...bao giờ cũng
sống măi. Văn chương là thông điệp của ư
thức, tư tưởng, tâm hồn con người, là
chính con người hoá thân vào trong chữ nghĩa, h́nh
ảnh, h́nh tượng. Hàng chục kiệt tác văn
chương của cha ông truyền lại nói như tác
giả bài văn mẫu kia chắc hẳn đều là những
vật vô tri vô hồn vô giác ư? Chả lẽ thơ Lư
Trần, đại kiệt tác "Quốc âm thi
tập" của Nguyễn Trăi, đại kiệt tác
"Truyện Kiều" của Nguyễn Du, các bản
kim cổ hùng văn như bài "Thơ Thần"
của Lư Thường Kiệt, "B́nh Ngô đại
cáo" của Nguyễn Trăi... thảy đều là
những vật vô tri cả sao? Không, di sản văn hoá
vĩ đại kia của cha ông để lại chính là
tâm hồn dân tộc được lưu truyền măi măi.
Lư Bạch ca ngợi văn chương Khuất Nguyên: "Khuất
B́nh từ phú huyền nhật nguyệt / Sở
vương đài tạ không sơn khâu" (Văn
chương của Khuất Nguyên sáng măi cùng mặt
trời, mặt trăng / Đền đài vua Sở
giờ chỉ c̣n là g̣ hoang). Ca ngợi Đỗ Phủ,
Nguyễn Du viết: "Thiên cổ văn chương
thiên cổ sư " (Văn chương để
lại muôn đời, bậc thầy của muôn
đời". Chế Lan Viên từng viết: "Nguyễn
Du viết Kiều đất nước hoá thành
văn". Kết luận của bài văn mẫu trên
rằng: "Văn chương là vật vô tri"
là một kết luận hết sức sai lầm, hết
sức tầm bậy, như là một cách hữu hiệu
nhất xoá bỏ chính bản chất của văn
chương vậy. Kết luận này c̣n nguy hiểm
hơn nữa v́ nó là bài văn mẫu cho học sinh trung
học dùng làm mẫu mực, làm gương soi.
Ngoài cái sai rất cơ bản về
quan điểm học thuật như trên, bài văn
mẫu này c̣n có nhiều cái sai khác. Chúng tôi xin lấy
một vài thí dụ làm bằng. Tác giả bài văn mẫu
thường viết câu văn lủng củng dây cà ra dây
muống, vô nghĩa như sau: "Từ đầu
đời Minh, cái lúc nàng Tiểu Thanh sống và
chết, cái lúc nàng quằn quại trong cái ghen
kiểu Hoạn Thư tàn nhẫn đến lúc này,
Nguyễn Du không phải đứng trưóc mộ nàng mà
chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc
trước cửa sổ". Câu văn trên không
chỉ lặp quá nhiều từ mà c̣n có thể phải
ngắt ra để chấm câu, bỏ bớt từ
ngữ thừa mới rơ nghĩa. Chúng tôi xin sửa lại
câu văn ḷng tḥng trên, chia thành hai câu cho đúng câu văn
Tiếng Việt: "Từ đầu đời Minh,
nàng Tiểu Thanh sống và chết, quằn quại trong cái
ghen kiểu Hoạn Thư tàn nhẫn. Nguyễn Du không
phải đứng trước mộ nàng mà chỉ
viếng nàng qua một tập sách đọc trước
cửa sổ". Nghĩa là một câu văn của
bài văn mẫu phải bỏ đi tám chữ và thêm
một dấu chấm mới đúng Tiếng Việt. Bài
văn mẫu c̣n không làm gương trong việc dùng ngôn
ngữ Việt, lại hay dùng từ Hán Nôm ví dụ như "thiên
cổ t́nh thư", "nam âm tuyệt xướng",
"sinh hoa diệu bút", "can tràng", "Ngộ gia
đệ cựu ca cơ" (Gặp nàng hầu cũ
của em - chú của TMH), "phi lộ", "đồng
bệnh tương lân", "huyệt lộ",
"hoa uyển"... Bài văn mẫu có khi lại dùng
những từ vô nghĩa: "nét mặt sầu
rầu". Có khi bài văn mẫu lại viết
cả những câu văn vô nghĩa, như câu văn
thứ hai của đoạn trích này: "Hai câu thực
đă khẳng định ḷng cảm thương sâu
sắc và nỗi oán hận, nỗi uất ức của
ông với thời đại, khẳng định bản
chất, tâm hồn Nguyễn Du. Bản chất ấy
vượt xa so với thời đại".
Rất nhiều khi bài văn mẫu tung ra những kết
luận không chính xác. Ví dụ như khi tác giả viết: "Tác
giả đau đớn, căm giận trước
sự thất bại của cái đẹp, cái thiện,
trước sự thắng thế của cái ác... "Viết
như thế này, quả t́nh tác giả bài văn mẫu
chưa hiểu được bản chất nghệ
thuật của bài thơ "Độc Tiểu Thanh kư".
Đúng là về hiện tượng nhất thời, cái
đẹp, cái thiện là tài sắc và tâm huyết nàng
Tiểu Thanh bị cái ác, cái xấu tạm thời
thắng thế thật. Nhưng cuốn sách ghi lại
cuộc đời nàng Tiểu Thanh đă sống măi,
nghĩa là nàng sống măi để nhận niềm
thương cảm của hậu thế tri âm tri kỷ ví
như sự thương cảm vô cùng của Nguyễn Du
với nàng qua bài thơ, mở ra khả năng chiến
thắng của cái đẹp, cái thiện. Khi người
đọc muôn đời thương cảm nhan sắc và
tài thơ nàng Tiểu Thanh, cũng có nghĩa là lên án cái
xấu, cái ác qua nhân vật người vợ cả th́ sao
dám bảo cái ác, cái xấu thắng thế cái thiện
mỹ? Bài thơ thấm đẫm t́nh nhân đạo kia
của Nguyễn Du chính là bài ca chiến thắng của
chân thiện mỹ vậy.
Bài phân tích bài thơ "Độc
Tiễu Thanh kư" trong cuốn văn mẫu đă dẫn
trên c̣n nhiều khuyết điểm khác về ư
tưởng, tu từ, về diễn đạt câu
văn... Chỉ cần bằng ấy sai sót từ quan
điểm nghệ thuật đến nội dung và h́nh
thức chúng tôi dẫn ra trên, ta thấy bài văn trên sao có
thể biến thành mẫu mực cho học sinh trung
học? Khi người ta dám
đưa một bài tập làm văn kém cỏi chỉ
xứng đáng điểm 2 này ra làm bài văn mẫu, th́ con
em chúng ta làm sao có thể học giỏi môn văn? Đây
không chỉ là một việc làm thiếu trách nhiệm
của những người soạn sách, mà c̣n là sự báo
động toàn thể xă hội về một thực
trạng đáng buồn: việc giảng dạy tắc
trách môn học quan trọng nhất trong nhà trường là
môn văn.
MỘT BÀI VĂN MẪU LÀM GƯƠNG
XẤU CHO HỌC SINH VỀ DIỄN ĐẠT, TU TỪ
Trần Mạnh Hảo
Cuốn sách "217 ĐỀ VÀ BÀI
VĂN" là tập bài văn mẫu dành cho học sinh
trung học, dày 627 trang, do NXB Đại học quốc gia
Hà Nội tái bản lần thứ hai năm 2000 với
số lượng lớn. Đó là cuốn sách của
bốn vị đồng tác giả : GS. Nguyễn
Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc
Thống, TS. Hà B́nh Trị và Chu Văn Sơn, một
tập văn mẫu có quá nhiều sai phạm về
nội dung và h́nh thức. Chưa nói tới vấn
đề sư phạm: đưa ra thứ văn mẫu
này sẽ làm thui chột khả năng sáng tạo
độc lập thẩm mỹ văn học nơi
học sinh, mà chỉ mới bàn sơ về phương
cách viết làm sao cho đúng một câu văn tiếng
Việt, cũng cần phải có hàng nhiều chục bài
phê b́nh mới đủ. Chúng tôi đă và sẽ lần
lượt bàn về những cái sai quá nhỡn tiền
trong một số bài của tập văn mẫu trên.
Ở bài viết này, chúng tôi sẽ trưng ra những
bằng chứng về sự sai phạm nghệ thuật
viết câu văn của bài văn mẫu phân tích "Vẻ
đẹp của h́nh tượng cây Xà Nu" trong
truyện "Rừng Xà Nu" của Nguyễn Trung Thành,
từ trang 539 đến trang 545.
Ở trang 541, tác giả viết: "Người
Xô Man sinh ra dưới bóng Xà Nu, lớn lên lam làm, sinh
hoạt cùng với Xà Nu, đến lúc hẹn ḥ
cũng ở dưới gốc Xà Nu, và khi yên nghỉ
cũng nằm bên dưới những cánh rừng Xà
Nu ấy. Nhờ đó mà Nguyễn Trung Thành đă vẽ ra
được trước mắt người
đọc về một làng Xô Man cụ thể xác thực, đó là
xứ sở Xà Nu, thế giới Xà Nu". Chúng tôi xin
bỏ đi 25 chữ, thêm một dấu phảy, một
dấu chấm câu để đoạn văn mẫu trên
không c̣n lủng củng, rườm rà, trùng lặp, sửa
lại như sau: "Người Xô Man sinh ra, lớn
lên, lam làm, sinh hoạt, hẹn ḥ, yên nghỉ cũng bên
dưới những cánh rừng Xà Nu ấy. Nhờ đó,
Nguyễn Trung Thành đă vẽ ra được một
làng Xô Man cụ thể, xác thực. Đó là xứ sở Xà
Nu, thế giới Xà Nu". Cũng ở trang 541 này, tác
giả viết một câu văn rất ngắn mà đă
lặp ba lần từ "là" như sau: "Nghĩa
là khía cạnh thứ nhất là tả
thực c̣n khía cạnh thứ hai là tượng
trưng". Câu văn này có hai cách viết làm cho thành
trong sáng. Cách thứ nhất, chỉ cần bỏ từ
đầu "Nghĩa là". Cách thứ hai bỏ đi 5
chữ, thêm 2 dấu hai
chấm (:), có thể viết lại như sau: "Khía
cạnh thứ nhất: tả thực, khía cạnh thứ
hai: tượng trưng".
Ở trang
542, tác giả bài văn mẫu viết: "Rừng Xà Nu
hiện ra với ba lứa cây chính: lứa những
cây già, lứa những cây trẻ và lứa những
cây non. Chúng lại hiện ra với những cảnh
ngộ và thân phận rất tương ứng với con
người: có những cây bị phạt ngang thân ḿnh,
có những cây ḿnh đầy thương tích, nhưng
không bom đạn nào làm cho nó gục ngă, lại có
những cây non mới mọc ra nhưng đă đâm
lên khỏi mặt đất nhọn hoắt như những
mũi lê". Tác giả bài văn mẫu trong
đoạn văn này chưa viết đúng câu đơn
giản. Chúng tôi xin sửa lại cho đúng với câu
văn tiếng Việt, bằng cách bỏ đi 15 chữ
(tiếng), thêm 2 dấu chấm câu như sau: "Rừng
Xà Nu hiện ra với ba lứa cây chính: cây già, cây trẻ và
cây non. Chúng lại hiện ra với những cảnh
ngộ và thân phận rất tương ứng với con
người: bị phạt ngang thân, ḿnh đầy
thương tích. Nhưng không bom đạn nào có thể làm
cho nó gục ngă. Có những cây non mới mọc nhưng
đă đâm lên khỏi mặt đất nhọn hoắt
như mũi lê".
Ở trang 543, tác giả viết một
câu văn hết sức lủng củng, dây cà ra dây
muống, không cần cả dấu chấm câu như sau: "Nếu
ở "Rừng Xà Nu", người ta thấy
sức sống của Xà Nu là bất diệt, ḍng nhựa
Xà Nu được truyền lại nguyên vẹn từ
những cây cổ thụ đến những cây non, th́
ở những con người Xô Man người ta
cũng thấy ḍng máu Tây Nguyên cũng được
truyền lại từ lồng ngực những thế
hệ già sang trái tim những thế hệ
trẻ". Chúng tôi sửa lại câu văn trên cho trong
sáng bằng cách bỏ đi 12 chữ, thêm 2 dấu chấm
câu, một dấu phảy để thành câu văn mới
sau: "Ta thấy sức sống của Xà Nu là bất
diệt. Ḍng nhựa Xà Nu được truyền lại nguyên
vẹn từ những cây cổ thụ đến
những cây non. Ở những con người Xô Man, ḍng máu
Tây Nguyên cũng được truyền lại trọn
vẹn từ lồng ngực thế hệ già sang trái tim
thế hệ trẻ". Ngay dưới câu văn này,
tác giả viết tiếp một đoạn khác: "Phải,
chỉ có cụ Mết, chỉ có cây Xà Nu cổ
thụ ấy mới có toàn quyền để phát ngôn
cho sức mạnh của Xà Nu: (trích một đoạn
văn của N.T.T.). Và khi người Xô Man đă cầm
lấy vũ khí nhất tề đứng lên khỏi
nghĩa, th́ cũng được Nguyễn Trung Thành
mô tả như sự nổi giận của rừng già
..." Đoạn văn trên phải bỏ đi
những từ ngữ thừa như: 2 chữ "có",
các chữ "đă", "lấy", "th́
cũng" mới thành câu văn trong sáng và đúng về
tu từ học.
V́ những câu phạm lỗi diễn
đạt và tu từ của bài văn mẫu kia khá
nhiều, cuối cùng, chúng tôi chỉ xin lấy thêm một
đoạn văn khác ở trang 544
để chứng minh: "Để biến h́nh
tượng Xà Nu thành một biểu tượng nghệ
thuật trọn vẹn. Nguyễn Trung Thành c̣n sử
dụng một kết cấu rất hợp lư, đó là
kết cấu ṿng tṛn mang tính luân hồi. Câu chuyện
mở ra bằng h́nh ảnh rừng Xà Nu được
đặc tả khá kỹ lưỡng và sắc nét. Cuối
cùng Nguyễn Trung Thành lại cũng dùng h́nh ảnh
rừng Xà Nu để khép lại câu chuyện. Đây là
lối kết cấu vừa đóng vừa mở, nó
khép lại câu chuyện này để mở ra câu chuyện
khác. Khiến cho người đọc có cảm
tưởng rằng đây chỉ là một
chương trong lịch sử ngàn đời của
người Xô Man, chỉ là một chương trong
bản anh hùng ca vô tận của Tây Nguyên".
Đoạn văn trên mắc nhiều lỗi sơ
dẳng. Lỗi thứ nhất là việc dùng từ không
chính xác: "Kết cấu ṿng tṛn mang tính luân hồi".
Luân hồi (métempsychose) là thuyết nhà Phật chỉ
kiếp người: sống chết là hoán chuyển
từ kiếp này sang kiếp khác, xoay tṛn như bánh xe không
dứt, sao lại dùng cho kết cấu tác phẩm văn
học theo nghệ thuật thủ vĩ tương
ứng này? Cứ cho rằng tác giả bài văn mẫu kia
dùng khái niệm "tính luân hồi" là đúng đi, th́
ngay câu dưới lại gọi là "Kết cấu
vừa đóng vừa mở". Kết cấu
"đóng..mở" th́ không thể gọi là "luân
hồi" được. Câu văn đầu và câu
văn cuối của đoạn văn trên là các câu văn
cụt, phải bỏ dấu chấm thay bằng dấu
phảy. Câu văn thứ hai và thứ ba phải bỏ
đi nhiều chữ thừa để ghép thành một câu
duy nhất. Câu văn thứ tư dài ḍng, thiếu một
dấu chấm câu. Chúng tôi xin sửa lại đoạn
văn trên cho đúng với phép tu từ tiếng Việt: "Để
biến h́nh tượng Xà Nu thành một biểu
tượng nghệ thuật trọn vẹn, Nguyễn
Trung Thành c̣n sử dụng một kết cấu rất
hợp lư: kết cấu ṿng tṛn. Câu chuyện mở
đầu bằng h́nh ảnh rừng Xà Nu và khép lại
cũng rừng Xà Nu. Đây là lối kết cấu vừa
đóng vừa mở. Nó khép lại câu chuyện này
để mở ra một câu chuyện khác, khiến người
đọc có cảm tưởng đây chỉ là một
chương trong lịch sử ngàn đời của
người Xô Man, một chương trong bản anh hùng ca
vô tận Tây Nguyên".
Với tất cả những lỗi
rất cơ bản về nghệ thuật hành văn,
nghệ thuật tu từ như trên, bài văn mẫu phân
tích truyện "Rừng Xà Nu" của các tác giả
vừa dẫn, quả t́nh đă biến thành tấm
gương xấu về việc giữ ǵn sự trong sáng
tiếng Việt. Thực cực ḷng cho chúng tôi và bạn
đọc phải đi chứng kiến, nêu ra, sửa
chữa những sai phạm sơ đẳng của
học sinh chính ra chỉ được phép sai phạm
ở trung học cơ sở, lại do các vị giáo
sư và tiến sĩ nổi tiếng viết ra. Với
những bài "văn mẫu" như thế này, không
biết người ta c̣n dẫn con em chúng ta đến
chốn mù mờ nào trong công cuộc dạy môn văn là môn
học để làm người, môn học quan trọng
nhất ?
T.M.H.
MỘT SỐ ĐỀ VĂN KHÔNG
CHUẨN XÁC
Trần Mạnh Hảo
Ra đề bài tập làm văn cho
học sinh làm luận văn trong nhà trường thiết
tưởng là điều quan trọng, không thể khinh
xuất để thiếu chuẩn mực. Thế mà,
lạ thay, trong cuốn "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN"
dày 627 trang, do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tái
bản với số lượng lớn lại có khá
nhiều đề văn thiếu chuẩn mực sư
phạm. Đây là công tŕnh của bốn tác giả: GS.
Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ
Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị và Chu Văn Sơn.
Đề văn do các tác giả này ra, bài văn mẫu
cũng do các vị này làm. Trên một số tờ báo, chúng
tôi đă viết bài phê b́nh nhiều bài văn mẫu trong
cuốn sách này có nhiều sai sót về nội dung lẫn
h́nh thức, không xứng đáng làm mẫu cho học sinh
noi theo. Đưa ra văn mẫu phải chăng là
để bít hết đường độc lập sáng
tạo của học sinh trong quá tŕnh tiếp nhận
văn học? Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi xin
chỉ ra những đề văn có nhiều lỗi sai
phạm về hành văn, về tu từ, về ngữ
pháp. Đề văn thầy ra không đúng th́ sao lại
đ̣i học tṛ làm đúng và hay bài luận được
?
Ở trang 34 có hai đề văn
phải sửa cho chính xác. Đề thứ nhất: "Trong
lịch sử văn học nước nhà, có một
số tác phẩm thơ văn xuất hiện vào
thời điểm trọng đại của sự
nghiệp giải phóng dân tộc và được coi là
những bản tuyên ngôn độc lập của dân
tộc, trong đó có tác phẩm B́nh Ngô đại cáo
của Nguyễn Trăi. Anh (chị) hăy phân tích bài cáo
để khẳng định giá trị nói trên của
nó". Đề văn này quá rườm rà, lủng
củng. Phải bỏ hết sự trùng lặp, câu
văn của đề mới gọn gàng, trong sáng. Chúng
tôi xin bỏ các từ sau: "có", "thơ
văn", "của dân tộc" và "của
nó". Sau khi bỏ từ trùng lặp, ta được
một đề văn viết đúng như sau: "Trong
lịch sử văn học nước nhà, một số
tác phẩm xuất hiện vào thời điểm trọng
đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc
và được coi là những bản tuyên ngôn độc
lập, trong đó có tác phẩm
B́nh Ngô đại cáo của Nguyễn Trăi. Anh (chị)
hăy phân tích bài cáo để khẳng định giá trị
nói trên". Đề thứ hai: "Bàn về tác
phẩm B́nh Ngô đại cáo của Nguyễn Trăi, có
người đă khẳng định: Đây là tác
phẩm có nhiều giọng điệu phong phú và
hấp dẫn. Anh (chị) hăy phân tích bài cáo để
chứng minh ư kiến trên". Đề văn trên không
ổn ở chỗ tác giả dùng từ: "Giọng
điệu". Từ "Giọng điệu"
thường được dùng ở những trường
hợp không đẹp, không hay ví như: "Giọng
điệu láo xược", "Giọng điệu
phản động", "Giọng điệu con
buôn"... Khi đưa từ "Giọng
điệu" vào cho văn phong đa dạng của
Nguyễn Trăi e không phải, không được. Có thể
thay từ "Giọng điệu " bằng từ:
"phong cách", "lối thể hiện", "âm
hưởng"...
Ở trang 196 đề văn ra về
Tản Đà: "Đọc bài thơ Thề non
nước của Tản Đà, người th́ cho
rằng đây là bài thơ viết về t́nh yêu
thắm thiết của nam nữ, người th́
quả quyết là tác giả nói về phong cảnh
thiên nhiên hữu t́nh, nhưng có người lại
khẳng định: Thông qua câu chuyện t́nh yêu và lời
thề thủy chung gắn bó của
non và nước, tác giả muốn gởi
gắm tâm sự đau buồn trước hiện
tại tang thương của đất nước
và niềm ước vọng ở ngày mai. Theo anh
(chị) nên hiểu bài thơ như thế nào và hăy phân tích
bài thơ để thuyết minh cách hiểu đó".
Đề văn trên quả là một câu văn điển
h́nh về sai phạm nghệ thuật tu từ tiếng
Việt. Ta cứ nh́n vào những chữ nghiêng đậm
trên để thấy sự trùng lặp đă khiến câu
văn quá lủng củng v́ thừa dấu phảy,
thiếu dấu chấm câu. Chúng tôi xin bỏ bớt từ
ngữ rườm rà, sửa chữa để câu cú
của đề văn trên
đúng văn phạm như sau: "Trước bài
thơ "Thề non nước" của Tản Đà,
đă có nhiều ư kiến khác nhau. Người nói đây là
bài thơ về t́nh yêu nam nữ. Người bảo tác
giả viết về phong cảnh thiên nhiên hữu t́nh.
Người lại cho thông qua lời thề thủy chung
yêu đương gắn bó giữa non và nước, tác
giả gửi gắm tâm sự đau buồn trước
đất nước tang thương và niềm
ước vọng ở ngày mai. Anh hay (chị)..."Ở
trang 582, có đề văn về truyện ngắn"
Một con người ra đời" của M. Gorky
viết như sau: "Tại sao nói "Một con
người ra đời" là một h́nh tượng
giàu ư nghĩa tượng trưng. Hăy chỉ ra ư nghĩa
tượng trưng của nhân vật người mẹ,
đứa con, người đỡ và h́nh tượng
đại dương trong câu chuyện". Đề
văn này hỏng ở chỗ gọi sai tên sự vật.
"Một con người ra đời" là tên tác
phẩm, tên truyện ngắn của
Ở trang
610, một đề văn về lư luận văn học
viết như sau: "Tiếp nhận đ̣i
hỏi người đọc sống với tác
phẩm bằng toàn bộ tâm
hồn để cảm nhận cái thông
điệp thẩm mỹ mà tác giả gửi
đến cho người đọc văn học"
(SGK Văn 12, phần văn học nước ngoài và lư
luận văn học -GD, 1992). Với kinh nghiệm
đọc sách của bản thân, em hiểu ư kiến trên
như thế nào?". Câu
của đề văn trên là một câu văn què
cụt, thiếu chủ ngữ. "Tiếp nhận"
cái ǵ ? - Văn học. Mệnh đề đầu
của đề văn phải viết lại như
thế này mới đúng: "Tiếp nhận văn
học đ̣i hỏi người đọc ...". Và
cuối câu trích dẫn đề văn trên, cần
phải bỏ từ "mà" thay bằng từ
"của" : "của tác giả", đồng
thời bỏ mấy chữ sau: "...Gửi cho
người đọc văn học". .. Sau khi bỏ
bớt và sửa chữa, thay từ ngữ, ta
được một đề văn đúng văn phạm
như sau: "Tiếp nhận văn học đ̣i
hỏi người đọc sống với tác phẩm
bằng toàn bộ tâm hồn, mới cảm nhận
được thông điệp thẩm mỹ của tác
giả. (SGK Văn 12...".
Cho hay,
việc ra đề văn cho học sinh làm luận
không phải dễ!
"MỜI TRẦU" HAY "MẮNG
TRẦU" - MỘT BÀI VĂN MẪU CÓ NHIỀU SAI SÓT
Trần Mạnh
Hảo
Tập văn
mẫu dùng cho học sinh trung học "217 ĐỀ VÀ
BÀI VĂN" của 4 đồng tác giả: GS. Nguyễn
Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống,
TS. Hà B́nh Trị, Chu Văn Sơn, dày 627 trang, do NXB
Đại học quốc gia Hà Nội tái bản với
số lượng lớn năm 2000, là một cuốn sách
c̣n quá nhiều vấn đề phải bàn lại. Ngay
việc tung ra hàng trăm bài văn mẫu cho học sinh,
liệu có khiến triệt tiêu hết khả năng sáng
tạo độc lập của các em khi tiếp nhận
thẩm mỹ văn chương hay không, cũng là
điều cần phải làm cho rơ. Trong phạm vi bài
viết này, chúng tôi muốn trao đổi với các tác
giả tập văn mẫu về bài: "Phân tích bài
thơ mời trầu của Hồ Xuân Hương"
từ trang 53 đến trang 59.
MỜI TRẦU
Quả cau nho
nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân
Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau
th́ thắm lại
Đừng xanh
như lá bạc như vôi.
Trước khi phân
tích bài thơ, tác giả bài văn mẫu mở bài quá dài,
với một số khái quát về thơ Hồ Xuân
Hương chưa chuẩn xác. Khi tác giả nói Hồ Xuân Hương
tuyên chiến với thói trọng nam khinh nữ của xă
hội phong kiến th́ đúng. Nhưng khi tác giả bài
văn mẫu viết như thế này về thơ Hồ
Xuân Hương th́ chưa đúng, không đúng: "...Hồ
Xuân Hương tuyên chiến với một thứ khuôn
phép, chuẩn mực của xă hội đẳng cấp
phong kiến đă trở thành trái tự nhiên, phi
đạo lư, bằng những vần thơ ngang ngược,
oái oăm, bằng cái tôi ngông nghênh kiêu ngạo của
ḿnh: "Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ - Lại
đây cho chị dạy làm thơ"; "Ghé mắt trông
sang thấy bảng treo - Ḱa đền thái thú đứng
cheo leo - Ví đây đổi phận làm trai được
- Th́ sự anh hùng há bấy nhiêu" (chữ nghiêng
đậm trong bài do TMH nhấn mạnh)... Mấy câu
thơ trích dẫn trên không dính dáng ǵ đến kết
luận của tác giả. Hai câu đầu là bài thơ
nữ sĩ diễu đám học tṛ nhỏ học hành
không ra sao, lại hay ghẹo gái; tuy là diễu nhưng
vẫn thông cảm, ưu ái. Bốn câu thơ sau là bài
thơ chê bai, thậm chí chửi xéo Sầm Nghi Đống,
thái thú của quân xâm lược nhà Thanh là quân hèn nhát. Tác
giả khái quát thơ Hồ Xuân Hương là "ngang
ngược, oái oăm, ngông nghênh kiêu ngạo" là
áp đặt, là chưa hiểu thơ bà. Ngay khi dẫn câu
thơ trong bài "Dỗ người đàn bà khóc
chồng": "Nín đi kẻo thẹn với non
sông", tác giả bài văn mẫu tỏ ra không
hiểu chính bài thơ và câu thơ này bằng một
lời b́nh lạc lơng: "...Thậm chí thách thức
với cả vũ trụ càn khôn".
Do chưa nắm
được bản chất nghệ thuật thơ
Hồ Xuân Hương như những đánh giá vừa
dẫn, tác giả lại đưa ra những kết
luận vừa suy diễn, vừa theo kiểu phê b́nh xă
hội học dung tục, nâng tiếng thơ trào lộng
trữ t́nh bi hài của cá nhân bà thành phong trào quần chúng và
những ấm ức cần giải toả của
lịch sử dân tộc, của xă hội, bằng
những lời đao to búa lớn như sau: "Tuy
nhiên, nếu Hồ Xuân Hương là tiếng nói đanh
thép, dơng dạc của phong trào quần chúng hùng mạnh,
quyết liệt nhất th́ đồng thời cũng là sự
thể hiện nỗi ấm ách, bực bội không
giải toả được của lịch sử
một dân tộc tuy khủng hoảng sâu sắc
nhưng chưa t́m ra lối thoát". Viết như
thế, hoá ra Hồ Xuân Hương bỗng trở thành
biểu tượng giải phóng xă hội và dân tộc,
thành nhà cải cách của quần chúng (!)
Phần mở bài
đă được tác giả viết quá dài, quá linh tinh,
gần một nửa bài viết, toàn đưa ra những
kết luận không đúng về thơ Hồ Xuân
Hương. Khi vào thân bài, tác giả lại lạc
đề gần hết một trang, đưa ra nhiều
nhận định không đúng khác, ví như kết
luận rất sai về Thơ Đuờng như sau: "Thơ
Đường thường thiên về tính trừu
tượng khái quát, ít khi miêu tả chi tiết cụ
thể. Do đó Thơ Đường cũng ít dùng
đến những màu sắc cụ thể đập
mạnh vào cảm giác người đọc. Thơ
Đường thiên về trí tuệ nên thường
chỉ gợi liên tưởng chứ ít miêu tả
trực tiếp". Chỉ cần đọc ba bài
thơ thu của Nguyễn Khuyến, cũng đủ
thấy kết luận trên về Thơ Đường
của tác giả bài văn mẫu này là một kết
luận không đúng.
Khi tác giả
viết như như dưới đây th́ có vẻ như
đă thẩm được bài thơ "Mời
trầu": "Cho nên đọc kỹ, lắng kỹ
từng câu thơ Mời trầu mà xem, có phải
đằng sau cái đanh đá, đáo để, vẫn
c̣n một tấm ḷng khát khao tha thiết và một giọng
khiêm tốn nhún nhường (Quả cau nho nhỏ miếng
trầu hôi - Này của Xuân Hương đă quệt
rồi) và không phải không có một cái ǵ như xót xa cay
đắng mà nhà thơ không hoàn toàn che dấu nổi (Có
phải duyên nhau th́ thắm lại - Đừng xanh như
lá bạc như vôi)..
Bài thơ
"Mời trầu" khá dễ hiểu, t́nh cảm và ư
tưởng của nữ sĩ hầu như đă là
một vỉa quặng lộ thiên. Chúng tôi rất ngạc
nhiên khi tác giả bài văn mẫu này tỏ ra không muốn
hiểu bài thơ, lại đưa ra những lời phân
tích áp đặt, sai lạc tinh thần bài thơ
đến cỡ thế này là cùng: "...Mời trầu
người ta, lẽ ra th́ phải mềm mỏng, dịu
dàng và phải bẽn lẽn một chút, Xuân Hương
không thế, cái tôi dơng dạc xưng tên: "Này của Xuân
Hương đă quệt rồi..."..."...Vậy mà
nhà thơ nữ của chúng ta dơng dạc: "Này của
Xuân Hương". Rơ ràng là một sự thách thức
táo bạo trước dư luận xă hội. Đă
thế lại c̣n đóng dấu ấn cá nhân vào miếng
trầu đưa cho người một cách rất ít
mềm mỏng: "Này của Xuân Hương đă
quệt rồi". Quệt cũng như têm thôi (têm trầu), nhưng quệt
tỏ ra suồng să hơn, bướng bỉnh và ngang
ngược hơn, không muốn khiêm tốn một chút nào.
"Có phải duyên nhau th́ thắm lại". Nhau tuy có
giọng thân mật đấy nhưng hoàn toàn b́nh
đẳng. Đến câu tiếp theo không c̣n là giọng
mời chào nữa, mà là một lời mắng hẳn hoi.
Mời ăn trầu mà cứ như mắng người
ta, dù là mắng yêu đi nữa, th́ cũng chỉ có Xuân
Hương thôi: "đừng xanh như lá bạc như
vôi !"
Tác giả bài
văn mẫu sợ người đọc chưa
tiếp nhận được "phát kiến"
mới của ḿnh trong việc giải mă câu cuối bài
thơ, bèn tuyên bố một lần nữa, như muốn
khép lại bài phân tích thơ một cách hùng hồn rằng
:" "Đừng xanh như lá bạc như
vôi". Đúng thế, mời mà như mắng
người ta". Viết như thế, tác giả
bài luận văn trên quả là không hiểu bài thơ
"Mời trầu", một bài thơ trữ t́nh
dịu dàng và t́nh cảm nhất của Hồ Xuân
Hương. Từ "Mời trầu", tác giả bài
văn mẫu đă chuyển hệ cho Hồ Xuân
Hương sang kênh "mắng trầu", có thể
biến nữ sĩ trở thành h́nh ảnh của kẻ
vô duyên, bỗ bă, nhố nhăng? B́nh thơ như trên,
phải chăng là mẫu mực của nghệ thuật
giảng văn trong nhà trường trung học
Thành phố Hồ
Chí Minh ngày 10-2-2001
T.M.H.
VĂN MẪU HAY
VĂN DỎM ?
Trần Mạnh
Hảo
Cuốn sách "217
ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội tái bản nhiều lần với
số lượng lớn vào các năm 2000, 2001, 2002 dành cho
học sinh trung học học tủ đi thi, là tập bài
văn mẫu của 4 tác giả: GS. Nguyễn Đăng
Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà
B́nh Trị, và Chu Văn Sơn; đây là cuốn sách c̣n khá
nhiều điều chưa chuẩn xác phải đưa
ra trao đổi, trong đó việc tung ra hàng trăm bài
văn mẫu thế này có đúng phương pháp sư
phạm không, có cản trở tinh thần độc
lập suy nghĩ và khả năng sáng tạo của
học sinh trong tiếp nhận thẩm mỹ văn
chương không? Ở bài viết này, chúng tôi chỉ bàn
tới bài văn mẫu từ trang 518 đến trang 522,
với đề văn như sau: "Dựa vào
những hiểu biết của ḿnh về con
người và sáng tác của Nguyễn Tuân, anh
(chị) hăy phân tích và miêu tả trên nét lớn cá tính và
phong cách nghệ thuật của nhà văn".
Đă gọi là bài
văn mẫu, bài văn của các giáo sư và tiến
sĩ hàng đầu ngành sư phạm vừa ra
đề, vừa viết bài làm gương cho học sinh
th́ dĩ nhiên phải hết sức mẫu mực.
Đề văn như trên là một câu văn lủng
củng, rườm rà, do ba lần lặp từ "của",
ba lần lặp từ "và". Chúng tôi xin
sửa lại câu của đề bài trên cho trong sáng,
bằng cách bỏ đi từ "của ḿnh",
bỏ tiếp hai từ "và", thay bằng
một dấu phảy. Ta có một câu văn ra đề
đúng tu từ tiếng Việt như sau: "Dựa
vào những hiểu biết về con người và sáng tác
của Nguyễn Tuân, anh (chị) hăy phân tích, miêu tả trên
nét lớn cá tính, phong cách nghệ thuật của nhà văn
".
Mở đầu
bài văn mẫu, tác giả viết: "Nguyễn Tuân
bước vào nghề văn dường như là
để minh hoạ cho hai câu thơ ngông của
Nguyễn Công Trứ: "Trời đất cho ta một
cái tài / Giắt lưng dành để tháng ngày chơi". Cuộc
đời có ǵ nghiêm túc đâu mà phải nghiêm trang
đạo mạo : hồi ấy, Nguyễn Tuân coi
sống chỉ là cuộc dong chơi. Có điều thú
chơi của ông là chơi tài, chơi nghệ
thuật. Thực ra muốn chơi ngông, nhất
thiết phải có tài. Bất tài mà chơi ngông,
người ta gọi là ǵ ǵ đó chứ không gọi là
ngông. V́ xét đến cùng, chơi ngông là đứng
ở đỉnh cao của tài hoa và trí thức mà trêu
ghẹo thiên hạ". (Những chữ nghiêng
đậm trong bài do TMH nhấn mạnh). Chỉ một
đoạn văn mở đầu bài văn mẫu
viết về đời và văn Nguyễn Tuân đă có
mấy cái sai không nhỏ. Cái sai thứ nhất là khi tác
giả bài văn mẫu dám dạy học sinh quan niệm
và lối sống hư vô chủ nghĩa, coi thường
mọi chuẩn mực luân thường đạo lư
của con người, vi phạm những nguyên tắc
cơ bản của giáo dục, của những chuẩn
mực sư phạm mang tính chất nền tảng: "Cuộc
đời có ǵ nghiêm túc đâu mà phải nghiêm trang
đạo mạo". Việc dạy và học
văn có nghiêm túc không, việc giáo dục cho hàng triệu
con em thành những công dân có tài có đức, việc xây
dựng cho chúng có lư tưởng, có ḷng tin vào chân lư, vào
lẽ phải, có t́nh cảm kính yêu đối với
Tổ Quốc, với cha mẹ, với đồng bào, khi
cần dám hi sinh tính mạng để bảo vệ
những giá trị thiêng liêng của dân tộc và nhân
loại đều là những vấn đề cực
kỳ nghiêm túc cả. Thật là kinh ngạc, mượn
chuyện văn mẫu để đưa ra kết
luận phủ nhận mọi giá trị nhân văn,
phủ nhận những nguyên lư căn bản làm nên xă
hội loài người, coi "Cuộc đời có
ǵ nghiêm túc đâu..." trước hết, tác
giả chừng như muốn xoá sổ cơ sở
của môn văn là học làm người-nhân học. Cái
sai thứ hai là việc thẩm thơ của tác giả bài
văn mẫu không chuẩn. Hai câu thơ dẫn trên không
phải nói về cái ngông của Nguyễn Công Trứ. Nó bao
hàm nhiều nghĩa, hoặc về thú tiêu dao, hay chí ít
cũng bóng gió nói về việc vua chúa chưa có mắt xanh
dùng người, hoặc diễn tả cái ung dung tự
tại của một con người tự tin, khẳng
định ḿnh hiện hữu giữa vũ trụ... Cái
sai thứ ba của đoạn văn mẫu trên là
việc tác giả cho: "Nguyễn Tuân bước vào
nghề văn dường như là để minh hoạ
cho hai câu thơ ngông ...". Hoá ra toàn bộ sự
nghiệp của Nguyễn Tuân, một nhà văn
được giải Hồ Chí Minh đợt đầu
tiên chỉ gói trong một chữ "ngông" ư? Cái sai
thứ tư của đoạn văn trên là việc tác
giả bài văn mẫu đưa ra những định
đề không chuẩn về chữ "ngông", chữ
"chơi". Bảo Nguyễn Tuân "chơi nghệ
thuật" c̣n có lư và có nghĩa chứ bảo ông "chơi
tài" là chơi cái ǵ đây? Nguyễn Du dạy: "Chữ
Tâm kia mới bằng ba chữ tài". Văn cốt
ở tâm trước, rồi mới đến tài sau.
Bảo Nguyễn Tuân "chơi tài" vừa vô nghĩa
vừa sai. Hoá ra cụ Tuân có tài không dùng làm việc ích
nước lợi dân mà dùng để chơi, để
duy tài chủ nghĩa bất kể chữ "tâm"
ư? Tác giả bài văn mẫu c̣n định nghĩa
về "ngông" rất lạ tai như sau: "Muốn
chơi ngông, nhất thiết phải có tài". Trong
đời sống xă hội, chán vạn ǵ những kẻ
vô tài bất tướng vẫn tỏ ra ngông, ngông
cuồng, ngông nghênh, ngông ngạo... đó sao? Tác giả bài
văn mẫu quả t́nh không chịu khó truy t́m nghĩa
chữ "ngông" trong tự điển và trong đời
sống, nên định nghĩa về "ngông" hết
sức sai: "Chơi ngông là đứng ở
đỉnh cao của tài hoa và trí thức mà trêu ghẹo
thiên hạ". Ở giữa bài văn mẫu, tác
giả c̣n viết rất cảm tính, tuỳ tiện
rằng: "Cái ngông xưa nay bao giờ cũng có
cơ sở lư luận vững chắc của nó".
Nhà ngông học này muốn đưa Nguyễn Tuân lên làm
"ngông giáo chủ" chắc? Mở bài văn mẫu,
tác giả đă lập ngôn và lập thuyết sai lạc
đến mức đánh tráo mọi khái niệm thông
thường, đẩy cuộc đời, sự
nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân vào
mấy chữ rất không xứng đáng, nếu như
không nói là hạ thấp nhà văn xuống chỗ dung
tục tầm thường theo công thức: Văn Nguyễn
Tuân = ngông = không nghiêm túc = chơi tài = trêu ghẹo thiên
hạ? (Chữ nghiêng đậm trong bài do THM nhấn
mạnh).
Chưa hết,
phần thân bài, tác giả văn mẫu c̣n
"tương" vào văn nghiệp Nguyễn Tuân
những món rất khó nghe của ḷng yêu mến, đến
mức chúng tôi bàng hoàng, không c̣n dám tin vào những đánh giá
như thế này là của một bài văn mẫu :"Vậy
th́ văn Nguyễn Tuân là thứ văn chơi, văn
đùa, cố t́nh khoe tài, khoe chữ một cách khinh
bạc và gai góc để gây sự, trêu ghẹo
người ta. Một lối văn suy tôn chính cái tôi
ngông ngạo của ḿnh, và trở đi trở lại chỉ
đem cái tôi ấy ra mà "độc tấu"
giữa thiên hạ. Một thứ văn nghênh ngang và lan
man, ng̣i bút cứ chạy theo những ḍng cảm
nghĩ lông bông, tài tử,
với những liên tưởng ngẫu hứng tạt
ngang hay cóc nhảy, lắm lúc muốn đưa
người ta vào những bát quái trận đồ.
Một cách lựa chọn đề tài cố t́nh coi
khinh những ǵ người đời cho là quan trọng
và đề lên rất cao, thậm chí thiêng liêng hoá
những ǵ người đời cho là tầm
thường xoàng xĩnh như cái ăn uống...".
Với những "đặc tính" văn Nguyễn
Tuân do tác giả bài văn mẫu tung ra ào ạt trên,
cộng cả trước và sau, ta có một hằng
thức về Nguyễn Tuân và văn chương của
ông dễ sợ như sau:
Văn Nguyễn
Tuân = ngông = không nghiêm túc = chơi tài = trêu ghẹo thiên
hạ = văn chơi = văn đùa = khoe tài = khoe chữ =
khinh bạc = gây sự = ghẹo người ta = suy tôn cái
tôi = ngông ngạo = nghênh ngang = lan man = lông bông = tài tử =
coi khinh những ǵ quan trọng = thiêng liêng hoá những tầm
thường, xoàng xĩnh ...
Ném vào văn
nghiệp đồ sộ của Nguyễn Tuân bằng
ấy "món" rác rưởi trên là ca ngợi hay
phủ nhận ông? Nguyễn Tuân là một nhà văn
lớn, người được giải thưởng
Hồ Chí Minh lần đầu, lẽ nào lại
"bị dạy", "bị đề cao" như
trên? Sau khi "ném" toàn bộ văn nghiệp lớn lao
của Nguyễn Tuân vào băi thải của những ngôn
từ kinh hăi trên, tác giả bài văn mẫu ở phần
kết lại coi ông là "định nghĩa
chuẩn mực về người nghệ sĩ",
một định nghĩa về nghề văn, một
tấm gương soi cho tất cả các nhà văn, theo
kiểu "Sự có mặt của Nguyễn Tuân trên
đời làm ta cảm thấy nghề văn cũng sang
trọng lắm chứ" th́ quá lạ lùng!
Một bài viết
hết sức thiếu trách nhiệm về Nguyễn Tuân
trên sao có thể là một bài văn mẫu? Thảo nào, tác
giả ngay từ đầu đă nêu gương cho học
sinh bằng một kết luận phi giáo dục của
ḿnh rằng: "Cuộc đời có ǵ nghiêm túc đâu...".
Chính tác giả đă thể hiện định nghĩa
trên bằng bài b́nh văn Nguyễn Tuân một cách hết
sức thiếu nghiêm túc, mà lại là văn mẫu
để học tṛ học thuộc ḷng đi thi tốt
nghiệp trung học hay thi vào đại học. Viết
bài báo này, chúng tôi xin lần thứ một trăm báo
động với dư luận xă hội rằng: ai,
những ai là người có trách nhiệm để sách
vở của ngành giáo dục xảy ra những hiện
tượng thiếu nghiêm túc một cách hệ thống này
măi như vậy?
MỤC ĐÍCH DUY
NHẤT CỦA HỌC VĂN: ĐỂ LÀM BÀI TẬP,
ĐỂ THI?
Trần Mạnh
Hảo
Trong cuốn:
"217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang, NXB Đại
học quốc gia Hà Nội tái bản số lượng
lớn năm 2000 - tập văn mẫu của GS.
Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ
Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị, Chu Văn Sơn, trong
"Lời nói đầu" của người chủ
biên, có đoạn viết: "Hiện nay trong phạm
vi nhà trường, để đánh giá tŕnh độ
học văn của các em, Nhà nước hầu như
chỉ có một phương thức duy nhất là yêu
cầu viết một bài văn theo một đề bài
nhất định (tất nhiên trong giới hạn
của chương tŕnh môn học). Như vậy,
viết được một bài văn có chất
lượng, ấy là năng lực có ư nghĩa quyết
định nhất đối với các em trên con
đường tiến lên từ lớp này qua lớp khác,
đặc biệt là qua các kỳ thi hết cấp và
tuyển sinh đại học - nói riêng về môn văn
".
Đọc qua đoạn trích trên,
tưởng như không c̣n ǵ để bàn, nếu không
gắn nó với mục tiêu cuốn "217 ĐỀ VÀ BÀI
VĂN" được ghi rơ trên b́a lót: "Dành cho
lớp 10 - 11 - 12 . Ôn thi tốt nghiệp phổ thông
trung học và đại học". Cuốn sách này
do các tác giả trên là giáo sư, là tiến sĩ ra tới
217 đề văn, cũng chính các vị này làm bài văn
mẫu. Trên mỗi bài văn mẫu có ghi "Bài văn
tham khảo". Nhưng trên cái gọi là tham khảo này
lại ghi rành rành là "bài học". Khi những bài
văn tham khảo viết ra để dùng làm "bài
học" cho học sinh học thi tốt nghiệp
phổ thông trung học và đại học, th́ đích
thị nó là những bài văn mẫu rồi. Hiện nay,
ngoài cuốn văn mẫu này, c̣n hàng chục cuốn
văn mẫu khác do NXB Giáo Dục, NXB ĐHQG Hà Nội và
một vài NXB khác ấn hành. Những sách loại này bày bán
khắp nơi, khiến học sinh mắc vào hội
chứng loạn chuẩn: cùng một đề tài, một
bài văn, mỗi sách giảng một khác, mỗi mẫu
mỗi khác, khiến các em không biết đâu là thật
giả. Nhưng vấn đề then chốt nằm ở
phần vừa dẫn trên: mục đích dạy và học
văn có phải chỉ để làm bài thi chăng?
Có thật "...Để
đánh giá tŕnh độ học văn của các em, Nhà
nước hầu như chỉ có một phương
thức duy nhất là yêu cầu viết một bài văn
theo một đề bài nhất định"
như tác giả Nguyễn Đăng Mạnh viết? Do
vậy, chỉ cần học tủ, học vẹt,
học để đối phó với thi cử, học
cốt kiếm bằng cấp là đủ sao? Không,
nghiệm thu của Nhà nước và của phụ huynh
học sinh với việc học văn của con em ḿnh
đâu phải chỉ đơn giản thông qua "một
phương thức duy nhất" là ở kết
quả bài kiểm tra hoặc bài thi? Nhà nước và nhân
dân nghiệm thu môn văn nơi con em ḿnh thông qua giáo dục
văn học ở nhà trường là nghiệm thu
người, nghiệm thu tư tưởng, t́nh cảm
thẩm mỹ, phương pháp tiếp cận tác phẩm
văn học, t́nh yêu với ông cha, với đất
nước của các em.
Nghĩa là học văn, rốt ráo là học làm
người. Văn học là nhân học, văn là người,
là tư tưởng t́nh cảm, tâm hồn dân tộc trong
cái đẹp vô cùng của tiếng Việt. Một
học sinh không được giáo dục thẩm mỹ
văn học không thể có cơ sở tiếp nhận
được thẩm mỹ văn hoá. Một con
người không biết yêu tiếng mẹ đẻ, không
biết cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ
đẻ trong văn học dân tộc ḿnh, con người
đó khó có thể có ḷng yêu nước. Người
Việt Nam ngay từ thuở lọt ḷng đă
được mẹ dạy văn một cách gián
tiếp, một cách trực giác, bản năng là lời
hát ru bằng những vần ca dao, giọng ḥ,
điệu chèo, điệu lư, quan họ dân ca
tuyệt mỹ. Rồi nhà trường tiếp tục
truyền đạt vào tư tưởng t́nh cảm
học sinh vẻ đẹp ngàn đời của tâm
hồn dân tộc qua Nguyễn Trăi, Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hương... T́nh yêu Tổ Quốc của các em khởi
đầu bằng văn học, từ văn học. T́nh
yêu ấy cao hơn mọi bài luận, bài thi. T́nh cảm và
tư tưởng thẩm mỹ ấy tạo nên nhân cách
con người học sinh chính là mục đích cao cả
của việc dạy và học văn trong nhà
trường vậy .
Việc dạy
văn chỉ cốt giúp các em "Viết
được một bài văn có chất
lượng", coi đó là "năng lực
có ư nghĩa quyết định nhất với các em"
như tác giả phần trích dẫn trên khẳng
định quả t́nh đang là vấn nạn lớn
của việc học văn. Đó là ḍng thác lũ
"văn mẫu" dùng đối phó, cốt thi,
cốt lấy bằng chứ không phải học văn
để bồi dưỡng tâm hồn tư
tưởng, nhân cách, lối sống cho học sinh, giúp
học sinh trở thành con người chân chính có ích cho
cộng đồng dân tộc. Tất nhiên, việc
kiểm tra bài tập làm văn, hoặc viết bài luận
văn thi tốt nghiệp của học sinh, sinh viên là
việc quan trọng, phản ánh tŕnh độ học
văn trong nhà trường của các em; nhưng không
phải là "phương thức duy nhất" để
"Nhà nước đánh giá tŕnh độ học
văn của các em" như tác giả phần
"Lơi mở đầu" của cuốn văn
mẫu này kết luận.
Yêu cầu của
nhà nước và nhân dân với việc dạy và học
văn cao hơn nhiều những bài kiểm tra, bài thi
đang bị các thứ "văn mẫu" kia che
phủ hết hồn vía môn
văn là khả năng độc lập sáng tạo trong tiếp
nhận thẩm mỹ văn học của học sinh.
Ngay cả "Truyện Kiều", một thiên lục
bát tuyệt vời nhất của văn học dân
tộc, nhưng đă có ai dám hô lên rằng đây là thơ
mẫu chưa? Viết văn hay như Vũ Trọng
Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Tuân... mà đă
ai dám bảo tác phẩm của họ là những áng văn
mẫu? Thế mà, một số vị giáo sư, tiến
sĩ tự ḿnh ra đề, tự ḿnh làm bài văn cho
học sinh học gạo, học tủ, học vẹt
một thứ văn mẫu không có văn, th́ mục
đích dạy văn và học văn đă bị sai
lạc hoàn toàn rồi vậy.,.
"VĂN
MẪU" THỜI NAY VÀ NHỮNG KHÁI QUÁT VĂN HỌC
THIẾU GƯƠNG MẪU
Trần Mạnh
Hảo
Mấy năm
gần đây, ở ngành giáo dục, trong chương tŕnh
giảng dạy văn học, rộ lên phong trào các
thầy, các giáo sư, các tiến sĩ tung ra hàng chục
cuốn "văn mẫu" dành cho học sinh trung
học học gạo, học tủ để đi thi
tốt nghiệp phổ thông và thi đại học. Chính
một số vị giáo sư, tiến sĩ tự ra
đề văn, tự ḿnh viết bài văn mẫu, dù có
ghi là tham khảo nhưng vẫn thấy đề trên
từng bài là "bài học". Những bài văn do các
thầy nổi tiếng với học hàm giáo sư,
học vị tiến sĩ viết ra để thành bài
học cho học sinh đi thi th́ đích thị là những
bài văn mẫu rồi. Đưa ra văn mẫu có
phải là một phương pháp sư phạm hợp lư
chăng? Hay nó che lấp mất mọi khả năng sáng
tạo độc lập của học sinh trong tiếp
nhận thẩm mỹ văn học, không cho các em t́m
kiếm lối viết văn riêng của ḿnh? Dạy
văn học mà t́m cách lấp hết lối sáng tạo
của học sinh th́ c̣n ǵ văn chương nữa ?
Một trong những cuốn văn mẫu vừa
được NXB Đại học quốc gia Hà Nội
tái bản năm 2000 với số lượng lớn, dày
627 trang: "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" của các
vị: GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS.
Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà B́nh Trị, Chu Văn
Sơn. Trên một số tờ báo, chúng tôi đă phê b́nh
từng bài văn mẫu không làm gương trong hành
văn, trong nghệ thuật tu từ, trong ngữ pháp, trong
những kết luận sai sót nơi cuốn sách trên. Nay chúng
tôi xin nêu ra những bất cập của bài văn mẫu
"Ôn tập môn văn học Việt Nam cuối lớp
10" in từ trang 130 đến trang 137 sách đă dẫn
. Đề văn như sau: "Truyền thống
nhân đạo chủ nghĩa của văn học
Việt Nam đă phát triển thành một trào lưu
mạnh mẽ với nhiều thành tựu rực rỡ
vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII và nửa
đầu thế kỷ thứ XIX. Em hăy giải thích và
chứng minh hiện tượng trên dựa vào những
điều đă được học về thời
đại và về sáng tác của Phạm Thái, Nguyễn Gia
Thiều, Đặng Trần Côn-Đoàn Thị
Điểm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du".
Câu thứ nhất
của đề văn trên c̣n có điều không ổn: "Truyền
thống nhân đạo chủ nghĩa của văn
học Việt Nam...". Phải bỏ đi từ
"chủ nghĩa" th́ mệnh đề trên mới
chính xác. Truyền thống nhân đạo, thương
người vốn dĩ là một chủ đề
lớn vào bậc nhất của văn học Việt Nam
từ văn chương b́nh dân đến văn
chương bác học. C̣n chủ nghĩa nhân đạo
(Humanism), hay chủ nghĩa nhân văn là một khái niệm
mang tính hệ thống đặc thù phương Tây
thời Phục Hưng từ thế kỷ thứ XIV-XVI,
đ̣i giải phóng tư tưởng và t́nh cảm con
người thoát khỏi ràng buộc của thời phong
kiến, thoát khỏi sự nô lệ vào định
mệnh thần quyền Thiên Chúa giáo. Văn học
phương Đông và văn học Việt Nam xưa hoàn toàn không có khái niệm về
chủ nghĩa nhân đạo, chỉ có truyền thống
nhân đạo mà thôi. Do đó việc áp đặt khái
niệm chủ nghĩa nhân đạo lên thời kỳ
rực rỡ nhất của văn học Việt Nam
từ cuối thế kỷ thứ XVIII - đầu
thế kỷ thứ XIX như đề văn trên là không
đúng. Câu thứ 2 của đề văn trên c̣n phải
bỏ đi hai lần từ "và", thay bằng hai
dấu phảy mới khỏi bị rườm rà,
lủng củng. Đă viết văn mẫu cho học sinh
học th́ trước nhất tác giả phải làm
gương từ chuyện hành văn, việc giữ cho
câu văn đúng ngữ pháp. Xin lấy một ví dụ
ở trang 133 về câu văn thiếu chủ ngữ: "Nhưng
qui mô và toàn diện hơn cả là bản án Kim Vân Kiều
truyện của Nguyễn Du". Cái ǵ "qui mô và toàn
diện hơn cả "?
Tác giả bài
văn mẫu này quả t́nh đă hiểu rất sai tinh
thần thi ca Hồ Xuân Hương khi viết: "...Hồ
Xuân Hương tài hoa và ngỗ ngược".
Hồ Xuân Hương "tài hoa" th́ không ai căi; nhưng
khi bảo bà "Ngỗ ngược" phải chăng
là muốn ca ngợi bà? Qua thi ca, ta biết Hồ Xuân
Hương bề nổi có vẻ như là một
người đàn bà có cá tính mạnh, hay cười
cợt, châm chọc thói hư tật xấu thiên hạ.
Nhưng bên trong thực chất Hồ Xuân Hương là
một người phụ nữ đau khổ, cô
đơn tột cùng không chỉ trong khát vọng về
hạnh phúc lứa đôi. Bà cười nấc lên thành
tiếng khóc thi ca. Bảo bà "ngỗ ngược"
như bài văn mẫu dạy học sinh trên tức là
bảo bà không coi ai ra ǵ, bất chấp phải trái,
hỗn hào, gàn bướng, vô giáo dục như một
mụ diều tha, quạ mổ, mất hết nữ tính,
nhân tính. Trước khi dẫn bài thơ "Mời
trầu" là bài thơ thể hiện sự dịu dàng
nhất, trữ t́nh nhất, khiêm nhường, tha
thiết, cô đơn nhất của bà, tác giả bài
văn mẫu không chỉ hiểu sai hoàn toàn tinh thần bài
thơ, mà c̣n tiếp tục thoá mạ "bà chúa thơ
Nôm" như sau: "Đường hoàng khẳng
định cá tính ngang ngược của ḿnh như
một thách thức đối với xă hội phong
kiến". Một thi hào dân tộc, một
người đàn bà cười ra nước mắt
bằng thơ như Hồ Xuân Hương, sao lại
bị tác giả bài "văn mẫu" thoá mạ
đến nỗi phong cho cá tính bà là "ngang
ngược" một cách ngang nhiên như thế? Hồ
Xuân Hương - người đàn bà cao sang bậc
nhất thi đàn Việt Nam chứ phải đâu là quân trốn chúa lộn
chồng, du côn du đăng mà gán cho bà là "ngỗ
ngược", "ngang ngược" như bài
văn mẫu kia?
Có lẽ các tác
giả cuốn văn mẫu không hiểu nổi thơ
Hồ Xuân Hương nên mới xúc phạm đến bà
cỡ đó. Ai là người từng đọc bài
"Đền Sầm Nghi Đống" cũng biết
là Hồ Xuân Hương chửi xỏ tên tướng
giặc xâm lăng. Nhưng tác giả bài văn mẫu này
không hiểu ra được điều đơn
giản ấy, lại đưa ra một câu b́nh sai
hết tinh thần bài thơ: "Đối lập
với quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ,
nữ sĩ đặt ḿnh không phải ngang hàng, mà lên trên
những đấng nam nhi". Hồ Xuân Hương có
thèm coi tên tướng giặc xâm lăng kia là
"đấng nam nhi" đâu mà so sánh "ngang hàng"
trên dưới với hắn. Đấy là bà chửi xéo,
nói mỉa, diễu cợt cái chí "làm trai" của các
vị bại tướng xâm lăng: "Ví đây
đổi phận làm trai được / Th́ sự anh hùng
há bấy nhiêu ". Rằng "làm trai" ǵ lũ mày,
"anh hùng" ǵ lũ mày (!) Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị,
Sầm Nghi Đống chỉ huy kéo sang đây cướp
nước bị vua Quang Trung đánh cho tan tác, chạy
thục mạng, bị giết cả đại
tướng, c̣n "anh hùng" nỗi ǵ, "nam nhi"
nỗi ǵ để Hồ Xuân Hương thi tài cao thấp?
Thi ca có nghĩa bóng, nghĩa đen, dẫu có lúc nói vậy
mà không phải vậy. Phân tích thơ mà không biết t́m ư
nghĩa bên trong của h́nh tượng thơ, dẫn
đến sự hiểu sai như trên th́ quả là tai
hại.
Chúng ta đều
biết chế độ phong kiến Việt Nam h́nh thành
từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập dân
tộc, kéo dài suốt Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê, Mạc, Lê
Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn, cho tới khi Pháp xâm
lược, hay nói cho chính xác đến năm 1945. Các
triều đại phong kiến Việt Nam lúc thịnh suy
khác nhau, nhưng triều đại nào hầu như
cũng có công lớn với đất nước trong
việc giành và giữ độc lập dân tộc, tuy
cũng có khi suy thoái gây nhiều khổ đau cho nhân dân, gây
nội chiến nhồi da xáo thịt như cuộc
chiến Lê- Mạc, Trịnh- Nguyễn. Các anh hùng dân
tộc như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lư
Công Uẩn, Lư Thường Kiệt, Trần Hưng
Đạo, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Trăi, Quang
Trung, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Hoa Thám,
Phan Đ́nh Phùng...đều mang hệ tư tưởng
phong kiến. Các thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều,
Đoàn Thị Điểm tới Tú Xương, Nguyễn
Khuyến cũng đều do hệ tư tưởng
phong kiến sinh ra. Phong kiến Việt Nam kéo dài cả
ngh́n năm chính là ông cha, là lịch sử là văn hoá dân
tộc. Tất nhiên, ư thức hệ phong kiến c̣n
nhiều hạn chế nếu dùng thế giới quan
hiện đại hôm nay để đánh giá. Nhưng chúng
ta phải nh́n nền chính trị phong kiến Việt Nam
bằng cái nh́n duy vật lịch sử, nghĩa là cần
phải khách quan, phải gắn với tinh thần khoa
học, không áp đặt quan niệm hôm nay vào ngày qua, không
chụp mũ lịch sử, vơ đũa cả
nắm. Tinh thần gạn đục khơi trong chính là
tinh thần nhân đạo Việt Nam truyền lại
từ thời ông cha, từ thời phong kiến: "Thân
tàn gạn đục khơi trong / Là nhờ quân tử khác
ḷng người ta" (Kiều). Cho nên, khi đánh giá
lịch sử, chúng ta cũng nên học theo tinh thần câu
Kiều này để mang khí chất "quân tử khác ḷng
người ta" mà "gạn đục khơi
trong" quá khứ .
Chúng tôi xin trích ra
đây những khái quát vơ đũa cả nắm,
phủ nhận sạch trơn hết cả ngh́n năm
văn hiến cha ông thời phong kiến của bài văn
mẫu này như sau: "Cái gọi là tam cương,
ngũ thường của đạo lư phong kiến, lâu
nay vẫn chi phối tinh thần của con người,
chỉ là giả dối, là trái với tự nhiên và ḷng
người"... "...Đánh vỗ mặt vào những
"hiền nhân quân tử " vốn là linh hồn và
bộ mặt cao đạo của chế độ phong
kiến, vạch trần bản chất dốt nát và
đạo đức giả của
chúng..."..."Chế độ phong kiến đă
trở nên hết sức thối nát và tàn bạo..."...
Tuy có những hạn chế lịch sử về thế
giới quan và nhân sinh quan Nho giáo ví như coi thường
phụ nữ, trọng cổ hơn kim, trung quân mù quáng...
nhưng những thành tựu lớn nhất của 10
thế kỷ phong kiến Việt Nam là giành và giữ
được đất nước, trừ nhà Nguyễn
để mất nước vào tay quân Pháp. Cha ông ta đă
nêu cao đạo lư yêu nước thương ṇi, lấy
dân làm gốc, xây dựng nên nền văn hoá Việt Nam
rất đỗi rực rỡ, tự hào, sinh ra hàng loạt
anh hùng và thi sĩ ...là những mặt tích cực không
thể phủ nhận. Không, đạo lư phong kiến
của ông cha ngh́n năm vẫn dạy làm người
phải giữ : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín,
"thương người như thể thương
thân", "bầu ơi thương lấy bí cùng" là
hết sức nhân bản, đâu có "giả
dối", có "trái với tự nhiên", "tàn
bạo, dốt nát", "đạo đức
giả" như bài văn mẫu này chụp mũ .
Nếu với
những áp đặt phi khoa học, lên án thậm tệ ư
thức hệ phong kiến, phủ nhận tất cả
những mặt tích cực của ông cha như thế, thử
hỏi làm sao "giữ ǵn và phát huy bản sắc dân
tộc" như nghị quyết Trung Ương từng
chỉ ra, làm sao dạy đúng được tinh thần
nhân văn thơ Lư Trần, Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ
...?
T.M.H.
NHÂN BÀN VỀ
CUỐN VĂN MẪU "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN"
NGHĨ THÊM VỀ
VIỆC SOẠN LẠI BỘ SÁCH GIÁO KHOA VĂN
Trần Mạnh
Hảo
Suốt nhiều năm ṛng dư luận xă hội thể hiện qua các lần họp quốc hội, rồi báo chí đă viết hàng trăm bài vạch ra hệ thống sai lầm của bộ sách giáo khoa từ tiểu học đến trung học. Đến nỗi năm qua Bộ Giáo Dục phải làm một cuộc chỉnh lư hợp nhất lại mấy bộ sách giáo khoa, trong đó có sách giáo khoa văn trung học. Tuy nhiên, khi bộ sách chỉnh lư hợp nhất in ra lại bị dư luận phê phán trên các phương tiện thông tin đại chúng và ở lần họp quốc hội vừa qua v́ SGK vẫn thiếu chuẩn mực. Chính v́ v&